PHẠM NHỮ DỰC
(13.. - 1409) (1)
Phạm Nhữ Dực (không rõ năm sinh) thuộc dòng dõi của danh tướng Phạm Ngũ Lão (1225 - 1320) vốn có quê ở làng Phù Ủng, huyện Mỹ Hào, Thừa tuyên Hải Dương (nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Sau đó ông di cư vào sống ở xã Lỗ Huyền, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, Thừa Tuyên Thanh Hoa (nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) và trở thành thủy tổ của tộc Phạm tại đây.
Tương truyền, Phạm Nhữ Dực là con nuôi của thượng tướng Trần Khắc Chung, người đã được vua Trần Anh Tông sai vào Đồ Bàn năm 1307 để cứu Huyền Trân công chúa khỏi phải lên giàn hỏa chết theo chồng như qui định của phong tục Chiêm Thành.
Năm Mậu Thân (1368), vua nhà Trần cử Trần Thế Hưng, Đồ Từ Bình và Phạm Nhữ Dực đem quân chinh phạt Chiêm Thành. Cuộc hành quân vừa đến lộ Thăng Hoa thì có sứ thần Chiêm là Mục Đà Na đến xin trả lại Hóa Châu.
Hai bên đang tiến hành thương thảo thì Chế Bồng Nga đem quân đánh úp. Tướng Trần Thế Hưng bị bắt. Đổ Tử Bình và Phó tướng Phạm Nhữ Dực phải rút quân về.
Năm Canh Thân (1380), Chiêm Thành đem quân tấn công vào Nghệ An. Vua Trần Nghệ Tống cử Lê Quý Ly (sau khi lên ngôi, đối thành Hồ Quý Ly) lãnh thủy binh, Đổ Tử Bình và Phạm Nhữ Dực lãnh bộ binh chặn đánh tan quân Chiêm ở sông Ngư Giang.
Năm Mậu Tuất (1382), quân Chiêm lại tấn công Thanh Hóa, Lê Quý Ly và Phạm Nhữ Dực vây đánh, quân Chiêm phải rút chạy.
Đến năm Tần Mùi (1391), tướng La Khải lên thay Chế Bồng Nga, đem binh xâm phạm Hóa Châu. Vua Trần Nghệ Tông lại cử Lê Quý Ly và Phạm Nhữ Dực chặn đánh quân Chiêm ở Trà Bàn.
Dưới thời vua Trần Thuận Tông (1388 - 1398), Phạm Nhữ Dực được phong chức Hậu quân Trung đô Dực Nghĩa hầu
Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần vào năm 1400, Phạm Nhữ Dực định đem quân về vấn tội họ Hồ nhưng chưa kịp hành động thì bị triệu về kinh. Nhận thấy chưa đủ điều kiện để phế trừ họ Hồ, không nên manh động nên Phạm Nhữ Dực đành nghe theo lời Hồ Quý Ly đem quân đi bình Chiêm mở mang bờ cõi về phương Nam, chờ thời cơ thuận lợi. Phạm Nhữ Dực cùng Đỗ Mãn, Nguyễn Cảnh Chân đem quân đi đánh Chiêm Thành. không lại nên dâng đất Chiêm Động (Nam Quảng Nam) và Cổ Lũy (Quảng Ngãi) để cầu hòa. Nhà Hồ chia đất vừa lấy được chia thành 4 châu Thăng (vùng Duy Xuyên, Thăng Bình, Quế Sơn (cũ)) Hoa (vùng Tam Kỳ, Núi Thành, Tiên Phước (cũ)), Tư, Nghĩa (vùng Quảng Ngãi (cũ)).
Sau khi chiếm đất Chiêm Động và Cổ Lũy, nhà Hồ cử Phạm Nhữ Dực làm Chánh Đô án vũ sứ châu Thăng Hoa, lo việc di dân người Việt, vỗ an người Chiêm để khai khẩn vùng đất mới. Chưa hoàn thành nhiệm vụ thì quân Minh đem quân sang đánh, bắt cha con Hồ Quý Ly về Tàu vào năm 1407. Nhân chuyện này, người Chiêm đem quân lấy lại đất cũ. Phạm Nhữ Dực cùng con là Phạm Đức Để cầm quân chống lại người Chiêm. Hai năm sau vào ngày mồng bốn tháng Mười năm Kỷ Sửu (1409) Phạm Nhữ Dực qua đời, được an táng tại làng Đồng Tràm, châu Thăng Hoa (nay là thôn Đồng Tràm - xã Xuân Phú).
Con trai trưởng của Phạm Nhữ Dực là Phạm Đức Đề cùng với Nguyễn Cảnh Chân tiếp tục sự nghiệp của ông đã quyết liệt chống lại quân Chiêm (khi họ tái chiếm Thăng Hoa) nhưng vì thế cô nên cuối cùng Nguyễn Cảnh Chân phải chạy ra Nghệ An còn Phạm Đức Đề ẩn trốn ra vùng An Trường (vùng Điện Bàn, Bắc Quảng Nam). Các cháu của Phạm Nhữ Dực (con Phạm Đức Đê) là Phạm Nhữ Dự và Phạm Đức Bối sau này cũng tham gia chống quân Minh và khi chết được chôn ở vùng Thăng Hoa.
Chính vì thế Phạm Nhữ Dực được xem là Cao thủy tổ của họ Phạm tại vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay.
Lúc ở ngôi chúa, sau khi chiếm vùng Ninh Thuận, thành lập dinh Thái Khương, Nguyễn Phúc Tần đã nhớ ơn những người tiên phong khai phá phương nam nên truy phong cho Phạm Nhữ Dực là Phủ Quốc công Nam dinh an vũ trấn khai vận sự thanh truyền Hậu quân trung đô Bình Chiêm Thượng tương Mô vĩ Hồng Huân Dực Nghĩa Hầu Phạm phủ Quân Thượng đẳng thần.
Sau này chắt nội của Phạm Nhữ Dực là Phạm Nhữ Tăng trở thành Tổng chỉ huy đạo quân thủy bộ của Lê Thánh Tông trong cuộc bình Chiêm thắng lợi năm 1471 và trở thành Đô ty Quảng Nam (vùng đất từ nam sông Bà Rén đến hết Quảng Ngãi ngày nay).
Uống nước nhớ nguồn, người dân Quế Sơn nói riêng, Quảng Nam nói chung đã xem Phạm Nhữ Dực là "thượng tướng bình Chiêm", một trong những "tiền hiền" của quê hương mình và ngôi mộ của ông - ngôi mộ tổ của tộc Phạm - ở làng Đồng Tràm, xã Xuân Phú là di tích độc đáo của thời "mở cõi" gian khó nhưng hào hùng.
1 Tác giả Đức Trí trong bài "Một vị tiền hiền xứ Quảng" (báo Đà Nẵng cuối tuần ngày 27/8/2010) cho rằng Phạm Nhữ Dực sinh ngày 16/10/1311. Không hiểu ông dựa vào nguồn tư liệu nào. Nhưng đây là thông tin không mấy khả tín vì nếu ông sinh năm này thì khi Hồ Quý Ly cử ông vào làm Chánh Đô án vũ sứ hai châu Thăng Hoa vào năm 1402 thì ông đã 91 tuổi. Không triều đình nào lại cử một cụ già trên 90 tuổi vào đảm nhận một công việc nặng nế ở vùng "ác địa" như vậy được.
PHẠM NHỮ DỰ
(1378 - 1434)
Phạm Nhữ Dự (1378 - 1434) là con trai của Phạm Đức Đề, cháu nội của Phạm Nhữ Dực (1311 - 1409) và là chắt nội của danh tướng Phạm Ngũ Lão (1225 - 1320), người đã 2 lần góp công cùng nhà Trần đánh thắng quân xâm lăng Nguyên Mông vào các năm 1258 và 1285.
Năm 1402, ông nội của ông (là Phạm Nhữ Dực) được Hồ Quý Ly cử vào Nam giữ chức Chánh Đô án vũ sứ đã sinh ra cha ông là Phạm Đức Để tại làng Đồng Tràm, tổng Xuân Phú (nay là xã Xuân Phú).
Năm 1407, khi cha con Hồ Quý Ly bị bắt về Tàu, nước ta bị quân Minh đô hộ, người Chiêm được sự hỗ trợ của quân Minh nổi lên lấy lại vùng đất mới bị nhà Hồ chiếm vào năm 1402 thì Phạm Nhữ Dự theo cha và ông nội chống lại người Chiêm và quân Minh.
Năm 1417, khi được tin Bình Định vương Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn Phạm Nhữ Dự đem toàn bộ quân đội và gia quyến ra Thanh Hóa để theo giúp, được phong là Cáo thọ Tập Phước hầu. Phạm Nhữ Dự đã cùng các tướng cầm quân đánh chiếm lại Tây Đô (Thanh Hóa), sau đó chiếm lại vùng đất rộng lớn từ Nghệ An đến Thăng Hoa. Sau khi giành độc lập, nhà vua đã cử ông quản lãnh phủ Thăng Hoa. Làm lưu trấn được hai năm thì ông bị bệnh qua đời ngày 19 tháng Chạp năm Canh Tuất (1434), hưởng dương 56 tuổi, an táng tại xứ Sa Lăng thuộc Đồng Tràm, tổng An Thạch, phủ Thăng Hoa (nay thuộc xã Xuân Phú). Tương truyền khi ông mất vua Lê Thái Tổ có viết tặng hai câu thơ:
Thiên địa thử gian hoàn cựu vật
Giang sơn chung cổ biểu tiền công.
Dịch:
Trời đất khoảng này hoàn vật cũ
Nước non muôn thuở rạng công xưa.
Phạm Nhữ Dự có hai người con là Phạm Nhữ Tăng và Phạm Thị Trào (Phạm Thị Triều). Sau này Phạm Nhữ Tăng, đỗ Đệ nhị điện hoằng Từ khoa, làm quan đến chức Bình chương quân quốc trọng sự, được cử làm Tổng chỉ huy quân thuỷ bộ trong cuộc bình Chiêm năm 1471 dưới triều Lê Thánh Tông.
Còn Phạm Thị Trào lấy Thượng tế Nguyễn Văn Lang (1435 - 1513), người đã từng dâng sớ "Bình trị" lên cho vua Lê Tương Dực khuyên nhà vua phải sửa mình để trị dân.Vua không nghe nên ông đã từ quan xin vào nam để khai phá vùng đất mới nhưng thực chất là để tránh hậu họa và đã trở thành thủy tổ của tộc Nguyễn ở vùng Hương Quế và được nhiều nhà nghiên cứu phong là "một trong những ông tổ của cãi Quảng Nam". Con trai của Nguyễn Văn Lang và Phạm Thị Trào là Nguyễn Ngọc Thanh làm Phó đô tuyên úy sứ dưới triều Lê và sau này cùng với cậu là Phạm Nhữ Tăng trở thành tiền hiền của làng Hương Quế (xã Xuân Phú).
Đến đời vua Lê Hiến Tông (1740 - 1786), năm Cảnh Hưng thứ hai (1742), Phạm Nhữ Dự được truy phong là Cao thọ Tập Phước hầu Phạm Phủ Quân, thụy phong Đại khai Thiên chỉ thần.
Nguyên văn sắc phong:(1)
"Sắc phong nguyên Thăng Ba phủ, Duy Xuyên huyện, Hương Ly xã. Tiên thủy tổ Phạm Quý công, tư bắc nhi nam, lai khai sang tiền hiền, Hồng Đức thọ điền khí chi trấn nam dinh, gia di phong sanh trủng tu sắc thọ Phụ chính triều trung, tặng phong Tập Phước hầu, thụy phong Đại khai tiên chỉ thần.
Khâm phong sắc.
Sắc phong
Đại Việt, Hoàng triều Cảnh Hưng nhị niên, ngũ nguyệt, sơ nhứt nhựt.
Giao trấn nam dinh chuyển đệ Phạm đại gia quảng sắc phụng sự".
Hiện nay, mộ Phạm Nhữ Dự còn ở xứ Sa Lăng, xã Hương An (nay là xã Xuân Phú, Thành phố Đà Nẵng) và ông được thờ ở nhà thờ tộc Phạm Nhữ ở làng Đồng Tràm, xã Hương An, huyện Quế Sơn (xã Xuân Phú, Thành phố Đà Nẵng hiện nay) như là vị Tam thế tổ của tộc Phạm ở xứ Đàng Trong.
1 Theo "Một tài liệu về cuộc di dân Nam tiến của tiền nhân" của Lâm Hoài Nam (dựa vào gia phả tộc Phạm làng Hương Quế).
PHẠM NHỮ TĂNG
(1421 - 1478)
Phạm Nhữ Tăng là "thượng tướng bình Chiêm", "danh thần triều Lê". Ông sinh ra trong một gia tộc danh giá với nhiều võ tướng đã lập nhiều chiến công hiển hách, là cháu bốn đời của danh tướng Phạm Ngũ Lão (1225 - 1320) đời Trần, cháu ba đời của Phạm Nhữ Dực, một "thượng tướng bình Chiêm", là cháu nội của Đinh Thượng hầu Phạm Đức Đề, người đã cùng cha cầm quân chống lại người Chiêm khi họ theo quân Minh chiếm lại vùng đất Thăng Hoa, Tư Nghĩa khi nhà Hồ sụp đổ vào năm 1407. Cha Phạm Nhữ Tăng là Phạm Nhũ Dự, người đã có công phò tá Lê Lợi khởi nghĩa chống lại cuộc xâm làng của nhà Minh, giành lại độc lập cho đất nước, được Lê Thái Tổ phong tước Cao thọ Tập Phước hầu.
Phạm Nhữ Tăng vốn có quê gốc ở làng ở làng Phù Ủng, huyện Mỹ Hào, Thừa tuyên Hải Dương (nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Tổ tiên ông đã di cư vào ở xã Lỗ Huyền, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, Thừa tuyên Thanh Hóa (nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Đến đời Phạm Nhữ Dực lại bắt đầu vào làm việc và sinh sống ở làng Đồng Tràm thuộc châu Thăng Hoa (nay là xã Hương An, huyện Quế Sơn).
Phạm Nhữ Tăng sinh năm Tân Sửu (1421) dưới thời Minh thuộc. Năm Đại Hòa thứ ba (1445), dưới triều Lê Nhân Tông ông thi đỗ đệ nhị Điện hoằng Từ khoa, được phong làm Thái Bảo, kiêm Tri Quân dân Chính sự vụ. Năm Quang Thuận thứ bảy (1467), được ban sắc Phụ chánh Tham tướng phủ, Quảng Dương hầu, Bình chương Quân quốc trọng sự.
Tháng 8 năm 1470, niên hiệu Hồng Đức nguyên niên, dưới thời Lê Thánh Tông, vua Chiêm là Trà Toàn đem 10 vạn quần, có cả voi và ngựa chiến đánh thành Hoá Châu (Huế). Trấn thủ Phạm Văn Hiển chống cự không nổi, phải rút vào thành cố thủ và cấp báo về triều. Tháng 10, vua Lê Thánh Tông sai sứ sang nhà Minh kể tội người Chiêm quấy nhiễu. Tháng 11, xuống chiếu và thân chinh đi bình Chiêm.
Phạm Nhữ Tăng được nhà vua hạ sắc phong làm Trung quân Đô thống, trao ấn Tiên phong Thự đồng nhung, Chưởng thập đạo Tinh binh Tiết chế Thủy lục quân. Vua ban Ngự tửu và gắn Hàn lâm Viện Học sĩ chương. Ngài dẫn đạo tiền phong, phát pháo hưng binh, mở thành môn thượng đại kỳ (Cờ vuông trong đỏ, ngoài viền vàng, có thêu bốn chữ "BÌNH CHIÊM HƯNG QUỐC") có vua Lê Thánh Tông ngự giá hậu tập.
Nguyên văn sắc phong:
ĐIỆN TIỀN SẮC HẠ
Chiếu Dụ chỉ sở, báo đạo các khoản:
Những tiên Chiêm Thành dử ngã quốc kỳ hiệp bang giao hữu đặt Sứ thần, y quốc thường niên cống nhập thỉnh sự cầu hòa. Hiện kim, Chiêm Thành phản nghịch, hành quân loạn động. Vu Thập Nhị Thừa Tuyên Công thần Phạm nhữ Tăng tuân lệnh. Nguyên Cai Phụ Chánh Tham tướng sự, Quảng Dương Hầu "THẦN" văn võ toàn tài, thông bửu chiếu chỉ "THẦN" tuân lệnh. Lãnh Trung Quân Đô Thống Thự Đổng Nhung lãnh ấn tiên phong, chưởng thập đạo tinh binh, chế thủy bộ lục bị quân trang tự Thuận Hóa Thừa tuyên chỉ nam Chiêm Thành Nam hoa, Cổ Lũy địa, trừ nghịch lộ tảo tán quân Chiêm loạn. "KHANH" tận kỳ trung báo quốc, tận kỳ nghĩa sự quân, hà hữu công tắt thưởng, hà hữu tội tắt trừng.
Thánh mạng điện chiếu
Thần, Phạm nhữ Tăng tuân mạng lệnh Hồng Đức nhị niên, tam nguyệt, thập bát nhựt.
Đại ấn: Chế Mạng Chi Bửu
Dịch nghĩa:
Lệnh vua ban ra, gồm các khoản:
Những năm trước đây, nước Chiêm Thành đã có bang giao với nước ta, và đặt Sứ thần, hàng năm có triều cống giảng hòa. Bây giờ, nước Chiêm Thành phản nghịch, đánh phá nhiều nơi. Nay công thần Phạm Nhữ Tăng đang tại chức Phụ chánh Tham tướng phủ, tước là Quảng Dương hầu; "Ngươi" văn hay võ giỏi, hãy nhận lệnh nhậm chức Trung quân Đô thống Thự đổng Nhung, dẫn đầu 10 đạo quân tinh nhuệ. Lệnh lãnh đạo tất cả hải lục quân và hãy lo trang bị quân trang quân dụng, từ Thuận Hóa (Thanh Hóa) trực chỉ hướng Nam vào đất Cổ Lũy của Chiêm Thành, tiêu diệt quân Chiêm phản loạn. Nhà ngươi phải hết lòng vì nước, hết tình vì quân. Nếu có công được thưởng, nếu có tội ắt bị phạt.
Thánh mạng điện chiếu
Thần, Phạm Nhữ Tăng tuân mạng lệnh Hồng Đức
năm thứ hai, tháng ba, ngày mười tám
Đại ấn: Chế Mạng Chi Bửu.
Dưới sự chỉ huy của Phạm Nhữ Tăng, đại quân tiến vào Đại Chiêm (bắc Quảng Nam), và Chiêm Động (nam Quảng Nam). Mở đầu chiến dịch, ngày 6 tháng Giêng năm Hồng Đức thứ 2 (1471), đạo quân tiên phong do tướng Cang Viễn chỉ huy vượt đèo Hải Vân, tập kích vào phòng tuyến Cu Đê, một tiền đồn quan trọng của quân Chiêm, nằm dưới chân đèo Hải Vân trên sông Cu Đê, bắt sống được viên tướng giữ trấn là Bồng Nga Sa. Ngay 6 tháng Hai, hai đạo thủy bộ hợp nhau đánh tan đạo quân của Trà Toại (em Trà Toàn) từ cựu đô Trà Kiệu kéo về cứu viện cho anh ở gần Sa Kỳ (Quảng Ngãi). Ngày 17 tháng Hai nhà vua tiến quân tấn công cửa Thị Nại. Ngày 28 tháng Hai quân Đại Việt đã bao vây thành Đồ Bàn, ngày 1 tháng Ba hạ thành. Vua Chiêm là Trà Toàn cùng hơn 3 vạn người gồm cả văn quan, võ tướng, phi tần, binh lính bị bắt. Vương triều thứ XIV của người Chăm chấm dứt.
Ngày 2 tháng Ba năm 1471 nhà vua ban chiếu hồi triều. Chiến dịch bình Chiêm hoàn tất thắng lợi với 89 ngày đêm kể từ ngày xuất quân (3/Chạp) nhưng thực chất chỉ có 55 ngày, kể từ trận đánh mở màn vào phòng tuyến Cu Đê.
Tháng Sáu năm 1471, nhà vua xuống chiếu thành lập Thừa tuyên Quảng Nam, thừa tuyên thứ 13 của Đại Việt gồm 3 phủ 9 huyện. Chữ Quảng Nam lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử.
Sau khi chiếm Đồ Bàn, Phạm Nhữ Tăng được bố trí ở lại và được vua trao quyền quản trị vùng đất mới, giữ vững an ninh, tổ chức di dân mở đất, lập làng xã. Đô Thống phủ của thừa tuyên Quảng Nam lúc ấy đặt tại thành Đồ Bàn, thuộc phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Sau khi thành lập đạo thừa tuyên Quảng Nam, lúc đầu ông được sai phấn trẫn trị phủ Hoài Nhân (Tri phủ). Ông và đại tướng bộ binh Nguyễn Đức Trung được triều đình trao quyền quản trị vùng này.
Năm 1472, sau khi Thái uý Trình Quốc công Nguyễn Đức Trung sức yếu trở về Tây Kinh (Tây Đô - Thanh Hoá), ông được hoàng đế Lê Thánh Tông trao chức Đô ty Quảng Nam kiêm trấn phủ Hoài Nhân (Đô Thống phủ). Chỉ dụ phong chức cho Phạm Nhữ Tăng có viết:
"Quảng Nam tang thiết thừa tuyên, công thần phụ chánh tham tướng Phú Quáng dương hầu Phạm Nhữ Tăng
Xã tắc thạnh cường ư tại khanh
Trẫm dữ khanh chỉ đồng tương tín
Kiết nãi kỳ tâm hậu thành đại nghĩa
Nam phương trấn tiểu vương diệt đồng".
Tuân chỉ nhà vua, Phạm Nhữ Tăng lưu lại phương Nam ra sức xây dựng vùng đất mới. Ông cai trị dân chúng bằng tấm lòng khoan dung, ra sức vỗ an người Chiêm ở lại, giúp họ hòa nhập vào cộng đồng người Việt, ra sức chăm lo phát triển kinh tế, áp dụng hình luật nghiêm minh. Nhờ đức độ và chính sách cai trị của ông vùng đất mới từng bước ổn định phát triển.
Ông xây dựng bộ máy cai trị từ hành chánh đến quân sự gồm có: Thừa chánh sử ty: Do Ngự sử đảm nhận lo các việc hành chính - xã hội. Hiến sát sử ty: coi việc hình sự (an ninh). Đô tổng binh sử ty: Coi việc binh lính. Chức chưởng các cơ quan đều được quy định rõ ràng. Ông chiêu mộ nhân dân khai thác phủ Thăng Hoa, lập xã Hương Ly (nay một phần thuộc huyện Thăng Bình) và bắt đầu khai địa tịch (sổ ruộng đất) ở Ngũ Hương. Ngũ Hương tức 5 làng gồm có: Hương Quế, Hương Lộc, Hương An, Hương Yên, và Hương Lư... (Nay là các xã vùng đông huyện Quế Sơn như Quế Phú, Hương An – sau này thuộc xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng)
Phạm Nhữ Tăng lưu trấn ở thành Đồ Bàn bảy năm. Do tuổi cao lại phải dốc hết tâm sức vào việc xây dựng và bảo vệ vùng đất biên viễn xa xôi nhiều bất trắc nên mùa xuân năm Hồng Đức thứ 8 (1478) ông ngã bịnh. Nghe tin vua Lê Thánh Tông đã cho Thái y đến nơi chăm lo thuốc thang, nhưng bệnh mỗi ngày thêm trầm trọng đến giờ Tuất ngày 21 tháng 2 đời Hồng Đức thứ 8 thì từ trần, hưởng thọ 57 tuổi.
Quân tốc báo về triều, vua Hồng Đức lấy làm thương tiếc, bèn hạ chiếu chỉ rằng: "Công thân khai quốc, tịch sự tam triều huân vọng, vị triều đình ỷ trọng, xã tắc an nguy, tại "KHANH" số nhơn kiệt nãi, tâm lực kỳ dư vu trị, chí nhựt thọ bệnh nhi chung. "TRÂM" tại bá kỳ phi tâm hoảng ốc. "KHANH" đẳng thời quyền đới nghĩa khí vu tư, vị cập thù công kịch đương di quốc vi niệm, "TRẪM" sở thâm vọng chi tình "KHANH" cự thượng giả trung đặc thân giả chánh, đàn tịch tả hữu vu tư, lục niên ái quốc chi trung, tử nhi hậu dĩ
Dịch:
Là một người có công mở mang bờ cõi, phục vụ ba triều, đã vì triều đình coi trọng, vì đất nước an nguy, nhà ngươi số sống đã tận, sức cùng không chữa được, thọ bệnh mà chết. Ta đây tâm lòng không yên. Ngươi khi sống vì nghĩa mà vô tư, vì nước mà ra sức. Ta đối với ngươi tình rất nặng. Người hết lòng trung với trên (ta), công tâm với thiên hạ, sáu năm vì yêu nước mến vua, nếm mật nằm gai, con cháu ngày sau thừa hưởng.
Di hài của Phạm Nhữ Tăng được khâm liệm và an táng tại Trường Xà Thành, nay thuộc An Nhơn, cách thành Bình Định 6 km về phía tây. Vua hạ chiếu cho cả nước để tang 21 ngày. Sáu tháng sau, nhà vua sai Thái lý về quê ông ở phủ Thăng Hoa, tìm huyệt để làm lễ đại táng. Địa lý tìm được huyệt "lục long tranh châu" tại xứ Bàu Sanh làng Hương Quế. Huyệt có tiền án hậu chẩm, có tả Thanh long, hữu Bạch hổ, và phía trước có Minh đường thủy tụ. Nhà vua rất hài lòng nên giáng chiếu cho lục bộ quan viên vào Trường Xà Thành khai quật hài cốt lên đại liệm vào hòm sành, và sắp đặt việc cử hành lễ di quan về quê.
Lễ di quan cải táng được cử hành rất trọng thể. Dẫn đầu là hai thớt voi được phủ dải yếm bằng nỉ đỏ thêu hoa văn rực rỡ, có nhiều tàng lọng che. Tiếp theo là dãy trướng liên do triêu thần đi viếng cùng với hàng cờ xí. Theo sau là đội chinh cổ và phường bát âm rồi đến long đình hai dãy tả hữu văn võ lỗ bộ. Quan tài, bàn triệu đi sau được các quan đại thần triều đình và đạo Quảng Nam ngồi trên đoàn voi ngựa đưa tang. Đám rước từ Trường Xà Thành về đến xứ Bàu Sanh xã Hương Quế mất hơn 1 tháng. Khi quan tài về đến nơi nhà vua cũng vừa ngự vào đến nơi để chủ trì việc trị táng. Ngài ra lệnh cho thợ xây lăng mộ và trích trí khuê điền một mẫu bảy sào giao cho dân xã Hương Quế ngày đêm hương khói phụng tự.
Đích thân nhà vua viết hai câu đối ban tặng cho ông:
Nghĩa sĩ uẩn cơ mưu, hiệp lực nhứt tâm bình Chiêm quốc
Miếu đài khai tráng lệ, linh hồn thiên cổ hiển Nam bang
Dịch nghĩa:
Nghĩa sĩ lăm cơ mưu, hiệp lực một lòng bình Chiêm quốc
Gương đài thêm rạng rỡ, hương hồn ngàn thuở rạng trời Nam.
Hai câu đối này hiện nay vẫn còn trên trụ biểu trước lăng mộ của ông. Lê Thánh Tông còn gia phong cho ông là Hoằng Túc trợ võ Đặc tấn phụ quốc, Quảng Dương hầu, Phạm Quý công đại phu.
Sau này khi nhà Lê trung hưng, vua Lê Thần Tông (1619 - 1642, 1649 - 1662) lên ngôi tưởng nhớ công ơn của ông đã có công mở rộng bờ cõi Đại Việt về phương Nam nên đã sắc phong cho ông tước Chánh Ngự Nam Phương Phạm Ngũ Quân Phò Hựu Thượng Đẳng Thần và cho xây lại lăng mộ. Nội dung sắc phong:
Công thần Phạm Quý Công
Thọ Phụ Chánh Quảng Dương Hầu lãnh Trung Quân Đô Thống Thự Đổng Nhung Trợ Võ Dực bảo Trung Hưng Tá Quốc Gia Đại Nghĩa Phu Hựu Đại Thần.
Kim triều truy tặng
Hoằng Tác Trợ Võ, Cang khác, Đoan túc
Tiền hiền, Phạm Phú Quân, Chánh Ngự Nam Phương Phạm Ngũ Quân Phò Hựu Thượng Đẳng Thần.
Hoàng triều Đại Việt, Dương Hòa nguyên niên, tứ nguyệt, thập lục nhật.
Giao Quảng Nam Dinh, Thăng Ba phủ, Hương Ly xã, nghi chuyển đệ sắc phong Phạm tộc phụng sự.
Bản sắc phong này có đóng dấu Chế phong chi bửu còn bản sắc phong của vua Lê Thánh Tông có đóng dấu Chế mạng chi bửu. Hiện hai bản sắc phong này và các sắc phong khác được tộc Phạm làng Hương Quế giữ gìn cẩn thận dù trải hơn 500 năm với nhiều biến cố.
Phạm Nhữ Tăng có hai người con trai là Phạm Nhữ Triều và Phạm Nhữ Tộ. Phạm Nhữ Triều là một võ quan. Năm Hồng Đức thứ 28 (1498), ông được phong Chánh đề đốc điều hành Lục Viện Trung cơ, có trách nhiệm chiêu binh, tập luyện làm quân dự bị ở phủ Thăng Hoa. Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê ông đã chống lại. Ông hợp quân cùng Lê Đại An, Lê Y vây đánh quân Mạc ở Chương Dương. Sự nghiệp khôi phục nhà Lê chưa thành thì ông lâm bệnh qua đời vào năm 1531. Khi nhà Lê trung hưng vua Lê Trang Tông đã truy phong ông tước Thượng tướng công Triệt dõng Húc Võ trợ oai chi thân.
Việc Phạm Nhữ Dực được an táng tại làng Đồng Tràm rồi sau này Phạm Nhữ Tăng được cải táng về Bàu Sanh đã làm cho vũng Ngũ Hương (gồm cả các làng Hương Quế và Đồng Tràm) trở thành quê hương thứ hai của tộc Phạm ở xử Đàng Trong. Các làng Đồng Tràm, Hương Quế trở thành những ngôi làng tiền hiền của Xứ Quảng và tộc Phạm là dòng tộc nồi tiếng của vùng. Dân gian vẫn truyền nhau câu:
Bao giờ núi Quế hết cây
Bàu Sanh hết nước họ này hết quan.
Thật vậy suốt gần 500 năm dưới thời phong kiến đây là họ tộc luôn có người thi đỗ và làm quan lớn, nam đã đành, nữ cũng vậy. Nam có Phạm Nhữ Triều, Phạm Nhữ Ngọc, Phạm Nhữ Đa, Phạm Nhữ Phong, Phạm Nhữ Khuê, Phạm Nhữ Thuật... Về nữ tiêu biểu có hai cháu nội gái của Phạm Nhữ Tăng là Phạm Thị Lang và Phạm Thị Phỉ. Phạm Thị Lang là vợ của Thiếu phó Quận công Tống Phước Khang, người làng Tống Sơn tỉnh Thanh Hóa làm quan dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635 - 1648). Con gái của bà là Tổng Thị Trước được chọn làm thứ phi của chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) và là mẹ của chúa Nguyễn Phúc Thái (1687 - 1691). Sau khi bà mất được phong là Huệ Thánh hoàng hậu. Còn bà Phạm Thị Phỉ cũng được tuyển vào cung và trở thành nhũ mẫu của chúa Nguyễn Phúc Thái, khi chết được phong là Quốc vương Nhũ mẫu Quốc thích…
Lăng mộ của Phạm Nhữ Tăng được con cháu tộc Phạm nhiều lần trùng tu. Ba lần gần đây nhất là vào các năm 1957, 1969 và 1996, và hiện nay đang trở thành một di tích văn hóa lịch sử, một điểm du lịch quan trọng thu hút nhiều khách du lịch đến viếng ở Quảng Nam.
Dân làng Hương Quế đã tôn Phạm Nhữ Tăng là tiền hiền của làng (cùng Nguyễn Ngọc Thanh và Trần Văn Chơn). Tượng Phạm Nhữ Tăng hiện được thờ ở gian giữa của nhà thờ tộc Phạm tại làng Hương Quế, xã Quế Phú, huyện Quế Sơn (nay thuộc xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng).
Tất cả các sắc phong này đều được con cháu tộc Phạm tại làng Hương Quế lưu giữ cẩn thận. Theo Lâm Hoài Nam "Một tài liệu về cuộc di dân Nam tiến của tiền nhân"
NGUYỄN VĂN LANG
(1435 - 1513)
Nguyễn Văn Lang được xem là thủy tổ khai cơ của tộc Nguyễn tại vùng đất Hương Quế (xã Quế Phú, huyện Quế Sơn – nay là xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng).
Theo gia phả tộc Nguyễn ở làng Hương Quế thì trước đó ông vốn có tên là Nguyễn Đại Lang, tự là Văn Giàu (sách Khâm Định Việt sử Thông giám Cương mục cũng viết là Nguyễn Văn Lang). Nhưng theo Phan Khoang trong Lịch sử Xứ Đàng Trong thì ông có tên là Nguyễn Văn Lãng.
Gia phả tộc Nguyễn - Hương Quế cũng xác định ông vốn thuộc dòng dõi Nguyễn Trãi, sinh 1435 tại xã Tiên Bào, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, Thừa tuyên Nghệ An (nay là xã Tiên Bào, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), là cháu của Thái bảo Hoằng Quốc công Nguyễn Công Duẩn (người theo Lê Lợi chống quân Minh, lập nhiều công, làm quan đến chức Bổng thần vệ Tướng quân), con trai của Thai úy Trinh quốc công Nguyễn Đức Trung (người giữ chức Điện tiền Chỉ huy sứ dưới thời vua Lê Nhân Tông, đã có công cùng Nguyễn Xí giết nghịch đảng đưa Lê Thánh Tông lên ngôi) và là em rể của Trung quân Đô thống Phạm Nhữ Tăng (em Phạm Nhữ Tăng là Phạm Thị Triều). Theo Đại Việt sử kí toàn thư "Nguyễn Văn Lang là người thông thao lược, giỏi thiên văn, có sức mạnh bắt được hổ" nên được cử làm Thủy quân vệ Chỉ huy sứ đóng giữ thành Tây Đô. Khi tên hoạn quan Nguyễn Khắc Hải mưu cùng giặc ngoại xâm gây hấn Đông Đô, ông cùng Lương Đắc Bằng đem quân dẹp quân phản nghịch. Sau sáu tháng thì giặc bị tiêu diệt, uy danh của ông vang dội. Lại thêm người chị của ông được tuyển làm cung phi nên ông được phong làm Thừa tướng Thượng tể.
Lúc bấy giờ trong triều vua Tương Dực hoang dâm tửu sắc, nhân dân ta thán. Mạc Đăng Dung lại âm mưu cướp ngôi nên ra tay sát hại công thần. Nhận thấy không thể can gián nhà vua, ngăn việc cướp ngôi của Mạc Đăng Dung nên nhân nhà có tang ông xin nhà vua cho mình được về nghỉ hưu. Sau một thời gian nhà vua có chiếu chỉ triệu ông vào triều bái yết. Ông không đi chỉ dâng điều trần "bình trị" gồm 14 điều khuyên nhà vua:
Tự răn mình sửa lỗi để tránh mọi tai họa cho dân
Phát lòng hiếu thảo, nhớ ơn các đấng tổ tiên đã dày công xây dựng non sông, để làm sáng tỏ tấm lòng trung hậu.
Lánh xa thanh sắc để chính lòng người
Trừ khử lũ gian nịnh để muôn điều giáo hóa được trong sạch
Thận trọng trong việc ban quan tước để tôn trọng phép ntắc thưởng phạt của triều đình
Thuyên chuyển phải công bằng để cho sáng đàng tiên dụng
Sử dụng tài chính không nên lãng phí để nêu gương tiết kiệm cho nhân dân
Khen người có tiết nghĩa để trọng đạo can thường
Cấm điều nhũng lạm để bài trừ thói tham ô
Tu chính võ bị để đủ sức mạnh phòng thủ đất nước cảm ngôn của mình
Trọng điều can gián để bầy tôi tỏ bày chí khí can trực
Khoan dưỡng sức dân cho thích hợp với lòng dân ngưỡng vọng
Hiệu lệnh nhà vua ban ra cần phải giữ đúng để nhân dân yên chí, khỏi lo ngại sự đổi thay
Thiết lập pháp chế triều đình để mở rộng công cuộc bình trị.
Nhà vua nghe theo lời ông, buộc triều thần đem 14 điều nói trên ra nghị luận. Đám nịnh thần sợ ông nên gièm pha cho là ông ỷ thế, coi thường triều đình, dám lên mặt dạy vua.
Họ Mạc âm mưu tiếm ngôi còn nhà vua thì hèn yếu, bất lực, đám nịnh thần lộng hành. Nguyễn Văn Lang từ quan và xin nhà vua cho vào Nam để khai thác biên thùy nhưng mục đích chính là xa lánh kinh đô để khỏi mang hậu hoạ. Ông vào Nam khai thác đất đai thành lập xã Hương Lư, thuộc Thừa tuyên Quảng Nam (nay là xã Quế Phú, Hương An huyện Quế Sơn và Bình Nguyên huyện Thăng Bình). (Trước đây đã nói PN Tăng lập Ngũ Hương có Hương Lư??) Ông mất ngày 17/Chạp năm Quý Dậu (1513) hưởng thọ 78 tuổi.
Mộ ông hiện nay còn tại xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Theo Phan Khoang trong "Lịch sử xứ Đàng Trong', khi ông chết được triều đình phong tước Nghĩa Huân vương, tế và táng được dùng nghi lễ theo tước vương và được tạc tượng bằng kim loại để thờ.
Con thứ hai của Nguyễn Văn Lang là Nguyễn Ngọc Thanh sau nay đã theo phò Nguyễn Kim được phong làm Chánh Đô đốc và là một trong tam vị tiền hiền của làng Hương Quế.
Trong sớ điều trần "bình trị" dâng lên nhà vua, Nguyễn Văn Lang có viết:
"Hạ thần từng nghe các bậc thánh quân thời trước, mặc dầu nước trị dân an nhưng không khi nào quên việc tỉnh giới, các bậc trung thần tuy gặp nhà vua sáng suốt tài đức nhưng vẫn lưu ý tìm dịp khuyên can để nhà vua tránh điều lầm lỗi.
Đời Nghiêu, Thuấn, vua rất thánh minh, nước nhà thạnh trị mà bầy tôi là ông Bá Ích còn khuyên rằng: Đừng vui quá độ, đừng chơi quá mức, đừng xao lãng việc nước, phải phòng ngừa sự suy vong xảy đến. Vua nghe theo lời mà phòng bị và trở nên bậc đại thánh.
Đời vua Hán Văn đế, nước giàu dân đông, mà ông Giả Nghị còn dâng sớ tâu rằng: Thời thế hiện nay không khác gì để lửa dưới đống củi rất dễ sợ, hoạn nạn hình như sắp xảy ra. Vua Văn Đế nghe ông mà lo việc trị nước và trở nên bậc hiền quân.
Kính tâu bệ hạ,
Làm tôi có tâu với vua điều gì mà không thành thật, không khích động thì không giúp ích gì cho vua. Còn nhà vua tiếp lời bầy tôi trần cáo mà không lưu ý thì chẳng khác gì chận ngặt con đường trần gián của bầy tôi.."
Đọc lại sớ "Bình trị" của Nguyễn Văn Lang ngày ấy, nhiều người vàn thấy phảng phất phong cách Quảng Nam ngày ấy, chẳng khác gì khẩu khí của Nguyễn Tiến Chương, Phạm Phú Thứ, Phan Châu Trinh... sau này. Có lẽ vì thế mà trong tác phẩm kinh điển viết về Quảng Nam "Phong trào Duy Tân" , Nguyễn Văn Xuân đã hạ bút: "Với những vị thủy tổ có thành tích cãi vua kiểu đó thì có lẽ trong bản chất của người Quảng đã có máu cãi"
Hiện nay tộc Nguyễn, làng Hương Quế là một tộc họ lớn và có nhiều người thành đạt ở Quế Sơn như cố Trung tướng Nguyễn Huy Chương, Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc.
PHẠM NHỮ TRIỀU
(1463 - 1531)
Phạm Nhữ Triều là con trai trưởng của Phạm Nhữ Tăng, sinh năm Quí Mùi (1463) đưới triều Lê Thánh Tông, tại làng Hương Quế, phủ Thăng Hoa (nay là xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam). Năm Hồng Đức thứ 28 (1498) ông được phong làm Chánh Đề đốc điều hành Lục viện Trung cơ, có trách nhiệm chiêu binh, tập luyện làm quân dự bị ở phủ Thăng Hoa (Nam Quảng Nam).
Nguyên văn sắc phong của Lê Thánh Tông như sau:
Thị: Thần sách trung quân dinh nguyên Chưởng vệ sung Chánh lãnh binh Phạm Nhữ Triều, quán Quảng Nam trấn, Hương Ly xã, tảo minh quân vụ, sảo thức binh cơ viện thăng vi Đề đốc, lãnh Lục viện trung cơ, tùng nội dinh trung quân đô thống chế, dự biện quân cơ, luyện tập chiêu binh, dự phòng chiến trận, chư sự vụ yếu nghi khắc tận tâm di cân vương sự. Nhược khuyết chức phất cần hữu quốc pháp tại.
Tư Thi
Hồng Đức nhị thập bát niên, ngũ nguyệt, nhị thập lục nhựt.
Đại ấn: Chế phong chi bửu
Phạm Nhữ Triều tận tụy phục vụ Lê triều cho đến cuối thời Lê Uy Mục (1488 - 1509). Lúc đó nhà vua hoang dâm vô độ lại sử dụng Mạc Đăng Dung làm quan túc vệ. Dung có âm mưu cướp ngôi nhà Lê nên tìm cách giết hại các lương thần trung nghĩa, làm cho triều đình rối ren.
Đến đời Lê Tương Dực (1509 - 1516), Mạc Đăng Dung được phong làm Vũ Xuyên bá, sau được Chiêu Tông phong làm Vũ Xuyên hầu. Lúc bấy giờ Dung nằm quyền thế trong tay, hống hách đủ kiểu, tự do ra vào cung cấm, chiếm dụng cả nghi vệ thiên tử. Phạm Nhữ Triều lấy làm lo lắng.
Năm Đinh Hợi (1527) Mạc Đăng Dung giết Chiêu Tông. Hai năm sau (1429), Mạc Đăng Dung ép triều thần thảo chiếu truyền ngôi cho mình, đặt niên hiệu là Minh Đức.
Cựu thần nhà Lê nhiều người chống lại. Nguyễn Đình Thảng không chịu giao bửu ấn, nhảy xuống biển tự tử. Vũ Duệ, Ngô Hoán, Nguyễn Văn Vận, Nguyễn Thái Bạt, Đàm Thận Huy, Nguyên Duy Tường... người thì bị giết ngay tại triều người thì từ quan về quê rồi cũng bị giết.
Phạm Nhữ Triều cùng Lê Đại An, Lê Y hợp quân chống lại nhà Mạc. Các ông đem quân đánh Chương Dương nhiều trận oanh liệt. Sự nghiệp khôi phục nhà Lê chưa thành thì ông lâm bệnh qua đời vào ngày mồng chín, tháng Tám, năm Tần Mão (1531), hưởng thọ 68 tuổi. Hậu duệ của ông ở làng Đồng Tràm, phủ Thăng Hoa đã lập đền thờ để hương khói cho ông.
Khi nhà Lê trung hưng, vua Lê Trang Tông (1619 - 1642 và 1649 - 1662) đã truy phong ông tước Thượng tướng công Triệt dõng Húc Võ Trợ oai chi thần.
Nguyên văn chế phong của vua Lê Trang Tông:
Phụng di chỉ tiên đế.
Công thần, Chánh Đề đốc Phạm Quý Công lãnh nhị thập chi cơ trấn Đồng quan tảo loạn quân ngụy Mạc, trấn nhút trận oai phong binh hung dõng tướng. Quý công thệ thể triêu tư mộ tưởng quân thần chi nghĩa.
Tặng Thượng tướng quân
Húc võ Trợ oai chi thần
Lê Triều Đại Việt trung hung
Nguyên Hòa thứ nhứt đầu mùa thu
Chế phong chi bửu.
Hữu vệ Điện tiền Tướng quân chuẩn thứ.
Các sắc phong của Lê Thánh Tông và Lê Trang Tông cho Phạm Nhữ Triều hiện được con cháu tộc Phạm lưu giữ cần thận tại nhà thờ tộc Phạm ở làng Hương Quế (Quế Phú, Quế Sơn – nay là xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng).
VŨ TRỌNG HOÀNG
(1923 - 1998)
Vũ Trọng Hoàng (tức Bốn Hương) sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Phương Trì, tổng Xuân Phú, nay thuộc xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam (hiện nay là xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng). Sinh ra trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan, từ nhỏ đã phải lao lực mưu sinh, lại tận mắt chứng kiến đời sống cơ cực, đòn roi của người dân thấp cổ bé miệng... lòng căm thù giặc sâu sắc trong ông đã được khơi dậy từ thưở thiếu thời. Xuất thân trong gia đình giàu truyền thống yêu nước, hai người anh ruột là Võ Thự và Võ Thành đều tham gia các phong trào đấu tranh chống thực dân phong kiến từ rất sớm. Cảnh nhà, cảnh nước đã tác động mạnh mẽ đến cậu bé Vũ Trọng Hoàng và là nguyên nhân khiên ông sơm có ý thức giác ngộ cách mạng
Đầu năm 1937, chưa đầy 16 tuổi, Vũ Trọng Hoàng đã hăng hái tham gia lực lượng thanh niên phản đế ở làng Phương Trì. Được giao nhiệm vụ làm liên lạc từ huyện Quế Sơn lên tỉnh Quảng Nam, lúc thì ở Điện Bàn, lúc thì ở Duy Xuyên, tham gia bảo vệ cán bộ thoát ly..., tên gọi "Bốn Hương" gần gũi, thân thương ra đời trong hoàn cảnh này gắn với hình ảnh một thanh niên nghiêm túc, mẫu mực trong công việc và mưu trí, khôn khéo với kẻ thù. Đây không chỉ là tên gọi thân thuộc của bà con làng Phương Trì, Quế Phú mà còn là tên gọi trìu mến của cán bộ, chiến sĩ, đồng bào từng hoạt động, công tác với đồng chí từ huyện đến tỉnh, Khu ủy khu 5 và Ban Tổ chức Trung ương sau này.
Nhờ hăng hái, năng nổ trong công việc nên Bốn Hương được đồng chí Ngô Thanh Tuần và đồng chí Nguyễn Cự tin tưởng, giới thiệu kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10/1939 và là một trong những đảng viên Cộng sản dầu tiên của Chi bộ Đảng làng Phương Trì. Sau khi đồng chí Ngô Thanh Tuần thoát ly lên làm công tác ở huyện, ông được cử làm bí thư chi bộ Phương Trì. Với cương vị bí thư chi bộ, Bốn Hương tích cực tuyên truyền, vận động và thanh lập được 14 tổ chức quần chúng ở Phương Trì và các xã lân cận. Đây là nền tảng chính để ông tuyền truyền, giác ngộ cách mạng cho hàng trăm quần chúng khác hiểu được ý nghĩa của cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, chống bọn cường hào áp bức, chống sưu cao thuế nặng, chông bát lam xáu, lam tạp dịch và tham gia nuôi nấng, che giấu, bảo vệ cán bộ thoát ly của tỉnh, bảo vệ cơ quan Xứ ủy Trung Kỳ, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo như Võ Toàn (tức Võ Chí Công), Nguyễn Sắc Kim, Nguyễn Cự, Nguyễn Hoàng, Hoàng Thị Hý, Trương An, Lê Chưởng... hoạt động trên địa bàn.
Đầu năm 1942, theo chỉ thị của Tỉnh ủy Quảng Nam, huyện Quế Sơn phát động một đợt rải truyền đơn, treo băng cờ nhằm gây thanh thế cho cách mạng. Bốn Hương và đồng chí Ngô Tuận được giao nhiệm vụ nhận băng cờ, truyền đơn từ đồng chí Đinh Dương - Huyện ủy viên về treo và phân phát ở khu vực ngã ba Hương An, trên quốc lộ 1A, nơi đông người qua lại và đã gây tiếng vang rất rộng, làm cho quần chúng phấn khởi hướng về cách mạng, đứng lên đánh Tây, đuổi Nhật, làm cho địch hoang mang, lo sợ. Tháng 2/1942, hoạt động của Huyện ủy Quế Sơn bị bể vỡ, Bốn Hương bị địch bắt đưa về tạm giam ở nhà lao huyện Quế Sơn. Tại đây, dù bị kẻ thù tra tấn đánh đập liên tục nhằm tìm ra đầu mối, cơ sở cách mạng, song Bốn Hương đều giữ vững tinh thần khí khái mạnh mẽ. Đến ngày thứ tư, địch đưa ông xuống nhà lao Hội An để tiếp tục tra tấn, khai thác. Ngoài đánh đập, chúng dùng không thiếu thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn tồi tệ như phun nước phân người lên đồng chí, cho ăn lạt, uống nước lạnh dơ bẩn cả tháng trời... song ông vẫn chịu đựng đến cùng, không hề khai báo, chỉ một mực trả lời. "Tôi không làm gì cả, không biết gì cả". Ròng rã ba tháng liền, ngày nào địch cũng tra hỏi, hành hạ Bốn Hương. Thậm chí chúng còn đưa tên mật thám Renault đến theo dõi, chỉ đạo khai thác nhưng tất cả đều thất bại. Mặc dù không có chứng cớ để kết tội, nhưng địch vẫn kết án ông 2 năm tù và đưa đi "an trí" ở Ly Hy, sau chuyển xuống nhà lao Phú Bài và cuối cùng là giam ở xà lim Huế.
Hầu hết các cuộc đấu tranh của tù nhân yêu nước nhằm đòi cải thiện chế độ giam giữ, đòi quyền dân sinh dân chủ, đều bị lính Pháp, lính Nhật đàn áp rất dã man. Trong tất cả các cuộc đấu tranh quyết liệt ở nhà lao để đòi cải thiện đời sống tù nhân, Bốn Hương là một trong những tù nhân địch xếp vào loại "cứng đầu" nhất... Sự chịu đựng, gan lỳ, bất khuất của Bốn Hương đã góp phần cổ vũ động viên anh em mới vào tù giữ vững tinh thần, khí tiết của người cộng sản, đoàn kết đấu tranh chống địch đàn áp, khủng bố, đòi dân sinh dân chủ...
Tháng 3/1945, sau ngày Nhật đảo chính Pháp, ông được trả tự do. Từ Huế về đến Hương An, mặc dù sức khỏe rất yếu, ông vẫn cố sức đi thẳng vào nhà đồng chí Nguyễn Huy Chương (sau này là Trung tướng, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 5), giao nhiệm vụ cho đồng chí Chương tập hợp quần chúng thanh niên tổ chức lượng tự vệ. Tháng 5/1945, ông được bầu vào Huyện ủy Quế Sơn, là Thường trực Ban vận động khởi nghĩa của huyện. Cùng với Huyện ủy, Ban vận động khởi nghĩa của huyện ông đã lãnh đạo, vận động nhân dân đứng lên giành chính quyền, góp công vào thắng lợi chung của tỉnh và cả nước, giành độc lập dân tộc và chính quyền về tay nhân dân.
Tháng 10/1945, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Vũ Trọng Hoàng được cử vào Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ nhiệm Việt Minh huyện, phụ trách công tác tổ chức và huấn luyện. Tháng 01/1946, ông được Tỉnh ủy và Huyện ủy phân công đặc trách Trại kinh tế số 03 tại Phước Sơn. Tháng 4/1946, ông được điều về lại làm Thường trực Huyện ủy, phụ trách công tác tổ chức. Tháng 6/1946, ông được cử làm Bí thư Huyện ủy, Phó Chủ nhiệm Việt Minh huyện Quế Sơn. Tháng 10/1946, ông được cử làm Hội phó Hội Liên Việt huyện và đến tháng 5/1947, ông là Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến - hành chính huyện Quế Sơn, được phân công phụ trách vùng địch hậu.
Hai tháng sau, Vũ Trọng Hoàng được cử đi học tập văn hóa do Liên khu ủy 5 tổ chức nhằm nâng cao trình độ học vấn, phục vụ yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Tháng 11/1948, tại Đại hội Đảng bộ huyện Quế Sơn lần thứ 2, ông được bầu làm Bí thư Huyện ủy. Từ tháng 11/1950 đến tháng 2/1952, ông được Tỉnh ủy điều động về công tác ở Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Bí thư Nông hội tỉnh, Phó Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Quảng Nam. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh (tháng 3/1952), ông được bầu vào Tỉnh ủy, được phân công làm Bí thư Huyện ủy Tiên Phước. Tháng 8/1952, được cử đi dự Hội nghị Nông vận toàn quốc, dự chỉnh huấn Đảng khóa 2 do Trung ưòng tổ chức và tham gia phát động quần chúng ở Thái Nguyên, khu 4. Đến tháng 4/1954, ông được điều về lại làm Bí thư Nông hội tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Trong thời kỳ 1945 - 1954, với bất kỳ cương vị công tác nào, từ Phó Bí thư, rồi Bí thư Huyện ủy Quế Sơn, Bí thư Huyện ủy Tiên Phước, Bí thư Nông hội tỉnh... Vũ Trọng Hoàng cũng đều tỏ rõ năng lực lãnh đạo và bản lĩnh kinh nghiệm của mình về chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương, củng cố nội bộ đoàn kết, động viên cán bộ, đảng viên xây dựng và phát triển tốt thực lực cách mạng, nhất là xây dựng đảng bộ, đẩy mạnh các mặt công tác kháng chiến, chống các lực lượng phản động, nhất là bọn Việt quốc, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng ở tỉnh Quảng Nam phát triển mạnh mẽ, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi.
Sau ngày ký Hiệp định Giơnevơ, Vũ Trọng Hoàng tình nguyện ở lại miền Nam, cùng đồng chí, đồng bào đối mặt chiến đấu với quân thù trong điều kiện ác liệt nhất, vượt qua mọi hy sinh thử thách, ngoan cường bám trụ xây dựng cơ sở và lực lượng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống địch quyết liệt. Từ tháng 8/1954 đến tháng 01/1956, ông được Tỉnh ủy phân công về làm Bí thư Huyện ủy Đại Lộc, rồi Bí thư Huyện ủy Quế Sơn. Từ tháng 02/1956 đến cuối năm 1959, ông được bổ sung vào Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam, được Tỉnh ủy phân công phụ trách các huyện cánh Trung, sau đó phụ trách các huyện cánh Nam của tỉnh. Mặc dù đây là thời kỳ cách mạng miền Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, tổn thất, song như nhiều chiến sĩ cách mạng kiên trung khác, ông đã không ngại gian khổ hy sinh, chông gai thử thách, bám trụ ngoan cường, xây dựng cơ sở và lực lượng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống địch rất quyết liệt, đóng góp quan trọng trong việc "giữ lửa" cách mạng của tỉnh, góp phần làm thất bại chiến lược "chiến tranh một phía" của Mỹ ngụy.
Tháng 01/1960, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, ông được bầu vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy kiêm Bí thư Ban Cán sự cánh nam tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, trực tiếp chỉ đạo huyện Tam Kỳ là huyện điểm của Thường vụ Liên khu ủy V và của tỉnh để triển khai thực hiện Nghị quyết số 15 của Trung ương Đảng. Cuối năm 1962, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành 2 tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà, ông được chỉ định tham gia Tỉnh ủy Quảng Nam, giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Bí thư Đảng ủy Dân Chính Đảng tỉnh Quảng Nam. Tháng 3/1963, sau khi đồng chí Phạm Tứ được điều về khu 5, Vũ Trọng Hoàng được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam. Ở những vị trí công tác mới, nhờ luôn kiên trì học tập, nghiên cứu và vận dụng tốt đường lối, phương châm của Đảng vào thực tiễn phong trào cách mạng địa phương, nhất là từ khi có Nghị quyết số 15 của Trung ương, ông đã tích cực chỉ đạo phong trào của tỉnh một cách toàn diện trên cả ba vùng chiến lược nông thôn, đồng bằng, miền núi và đô thị, cả quân sự, chính trị và binh vận, cả củng cố xây dựng phía sau và mở rộng vùng giải phóng ra phía trước... trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo rất hiệu quả phong trào quần chúng ở các địa phương, nhất là các huyện cánh nam của tỉnh.
Tháng 6/1967, tại Hội nghị Khu ủy 5 lần thứ 6, Vũ Trọng Hoàng được bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ Khu, phân công làm Phó Trưởng Ban Tổ chức Khu ủy 5. Sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968, ông được Khu ủy phân công xuống làm Chính ủy Mặt trận Nam Quảng Nam. Với chức trách quan trọng này, ông đã trực tiếp chỉ đạo các phong trào cách mạng sôi nổi như đấu tranh diệt ác phá kèm, chống địch xúc tát dồn dân... Trên cương vị được giao, tuy nhiệm vụ nặng nề và mới mẻ nhưng ông đã nỗ lực cố gắng đi sâu nghiên cứu, nắm chắc từng vấn đề một. Nhờ đó, đã góp phần chỉ đạo công tác tổ chức xây dựng Đảng, công tác cán bộ của Khu ủy 5 đạt được kết quả, nhất là đã góp phần giải quyết những vướng mắc về xây dựng tổ chức cơ sở đảng, công tác cán bộ, tạo ra những nhân tố cơ bản, góp sức giành thẳng lợi lớn trong chiến dịch xuân năm 1975 ở khu 5, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, chấm dứt 21 năm chia cắt hai miền Nam - Bắc của Tổ quốc, ông Vũ Trọng Hoàng được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VI, được Trung ương cử về tiếp tục công tác ở Tổ xây dựng Đảng thuộc Văn phòng đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tại Khu 5. Từ tháng 4/1976 đến giữa năm 1983, ông được cử giữ chức vụ Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, trực tiếp phụ trách các tỉnh thuộc Khu 5 và Khu 6. Trên cương công tác mới, ông đã góp phần giải quyết hàng loạt các vấn đề, phục vụ kịp thời tình hình yêu cầu nhiệm vụ mới như xem xét và chứng nhận hàng loạt cán bộ ở miền Bắc về tăng cường bổ sung cho các địa phương; vấn đề tổ chức và cán bộ trong việc giải thể khu, nhập tỉnh mới, kiện toàn huyện; thực hiện sự chỉ đạo của bốn cấp của Trung ương, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, công tác cán bộ, nhất là làm chuyển biến tổ chức cơ sở đảng, tiến hành đại hội Đảng các cấp, sắp xếp và bố trí hợp lý dần đội ngũ cán bộ... tạo điều kiện để Trung ương hiểu và nắm địa phương sâu và chắc hơn. Năm 1983, đã 60 tuổi đời, gần 50 năm sát cánh với cuộc trường chinh cứu nước của dân tộc, Bốn Hương đã cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, sức khỏe bị giảm sút, đồng chí được Đảng, Nhà nước cho về nghỉ hưu tại thành phố Đà Nẵng.
Sớm giác ngộ và tham gia cách mạng ngay từ thập niên 30 của thế kỷ XX, từ lúc còn rất trẻ, Vũ Trọng Hoàng là một trong những cán bộ lão thành cách mạng tiêu biểu của tỉnh Quảng Nam. Được trui rèn qua nhiều giai đoạn đấu tranh cách mạng ác liệt nhất của dân tộc và địa phương, khi bị tù đày hay đương hoạt động, lúc bí mật, lúc công khai, ở đâu ông cũng nêu cao phẩm chất tốt đẹp của người đảng viên cộng sản trung kiên, người chiến sĩ cách mạng gan lỳ, dũng cảm. Trên mọi cương vị công tác, bao giờ đồng chí cũng thể hiện là một cán bộ năng nổ đi đầu, đầy trách nhiệm với công việc, liêm khiết, chí công vô tư. Đặc biệt, ông rất gắn bó, tâm huyết với công tác tổ chức xây dựng Đảng và đã có nhiều cống hiến đáng kể trên lĩnh vực xây dựng Đảng về tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ.
Trung tướng Nguyễn Huy Chương, nguyên Chính ủy, Phó Tư lệnh Quân khu 5, nhận xét về người anh, người bạn của mình: "Bốn Hương là một người có tình, có nghĩa với dân, với bạn bè, đồng chí, là người kiên trì, tận tụy với công việc, luôn trong sáng, liêm khiết và giản dị. Với kẻ thù thì bất khuất, không khoan nhượng".
Bốn Hương không đầu hàng với phận nghèo của gia đình. Không đầu hàng trước sự tàn bạo của kẻ thù, sự khốc liệt của chiến tranh, nhất là những năm bị đàn áp đẫm máu sau Hiệp định Giơnevơ 1954. Nhưng sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn sạch bóng quân giặc, ông biết mình không thể vượt qua cơn bệnh hiểm nghèo đang đe dọa ông từng ngày, từng giờ. Đang nằm trong bệnh viện thở được nhờ bình ô - xy treo đầu giường, ông nhằn Nguyễn Huy Chương vào, nắm tay Nguyễn Huy Chương thỏ thẻ những lời tâm huyết sau cùng: “Chắc tuần này mình đi xa. Chương cố gắng chứng nhận cho các đồng chí bị bắt, bị tù mà chúng ta biết rõ để các đồng chí ấy không bị thiệt thòi, được hưởng quyền lợi xứng đáng với công lao đã đóng góp. Ở Quế Sơn, số cán bộ cựu trào đã đi hết rồi, chỉ còn lại sau tôi là cậu. Cậu cố gắng tham gia với Quế Sơn viết lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và của quân đội Quế Sơn. Chắc từng trải trường đời cậu hiểu, con người sống đã khó, sống trọn vẹn càng khó. Về hưu chưa hẳn đã xong đâu. Cuộc sống còn nhiều phức tạp lăm. Đừng chủ quan, cố giữ mình cho đến khi nhắm mắt xuôi tay ...”
Về đời riêng, với một tấm lòng sắt son với Đảng, với dân tộc, Vũ Trọng Hoàng đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng. Mãi đến năm 1965, khi đã ngoài 40 tuổi, ông mới xây dựng hạnh phúc gia đình với người bạn đời thân quý cũng là một cán bộ sớm thoát ly hoạt động cách mạng là bà Trần Thị Hồng Hoa, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng kiên cường bất khuất của ông mãi mãi là tấm gương sáng cho nhiều thế hệ học tập, noi theo.
01 Huân chương Hồ Chí Minh
01 Huân chương Độc lập hạng Nhất
01 Huân chương Quyết thắng hạng Nhất
01 Huân chương Thành đồng hạng Ba
01 Huần chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất
02 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì
03 Huân chương Giải phóng hạng Nhất
01 Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân
01 Huy chương Vì giai cấp nông dân Việt Nam
Kỷ niệm chương "Chiến sĩ bị địch bắt tù đày"
Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp tổ chức xây dựng Đảng"
Huy hiệu 40, 50, 60 năm tuổi Đảng
NGUYỄN HUY CHƯƠNG
(1926 - 2004)
Trung tướng QĐND Việt Nam
Nguyễn Huy Chương có tên khai sinh là Nguyễn Nho, sinh năm 1926 tại xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng). Ông thuộc dòng dõi Nguyễn Trãi, là hậu duệ của Thượng tế Nguyễn Văn Lang, thủy tổ của tộc Nguyễn ở làng Hương Quế.
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia Đoàn thanh niên phản đế tại quê nhà bị bắt vào tháng 2/1942 nhưng vì nhỏ tuổi chưa thể kết án nên được đưa về địa phương quản thúc.
Năm 1945 tham gia khởi nghĩa tại địa phương được cử làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hương Quế. Tháng 11 năm đó được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Tháng 3/1947 là Chính trị viên đội Biệt động huyện Quế Sơn, được cử đi học lớp đào tạo gây cơ sở trong vùng địch hậu tại trường lục quân Quân khu V. Ra trường được cử làm Đội trưởng đội vũ trang tuyên truyền 103, hoạt động ở Tây Nguyên, làm Ủy viên Ban Cán sự huyện Chư Ty, tỉnh Gia Lai.
Sau năm 1954, tập kết ra Bắc thuộc Trung đoàn 120. Năm 1958 được cử đi học tại Học viện Chính trị cao cấp.
10/1961 làm chủ nhiệm chính trị trung đoàn 120. Tháng 10/1961 về chiến trường miền Nam làm Chủ nhiệm chính trị trung đoàn 2 hoạt động ở vùng Đông bắc Tây Nguyên và Tây Quảng Ngãi… Năm 1963 làm Chính trị viên tiểu đoàn đặc công 409 Quân khu V. Tháng 9/1965 là Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam.
1968 là Phó Chính ủy Sư đoàn 2, sư đoàn chủ lực của Quân khu V.
5/1972 Chính ủy sư đoàn 711, rồi Chính ủy Sư đoàn 2.
Sau năm 1975 là Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam
1978 được cử đi học tại Học viện Quân sự cao cấp.
2/1979 thăng quân hàm Thiếu tướng làm Phó Tư lệnh Quân khu V.
1986 thăng quân hàm Trung tướng làm Phó tư lệnh Chính trị, Bí thư đảng ủy Quân khu V, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Năm 1991 nghỉ hưu sống ở Đà Nẵng.
Sau khi nghỉ hưu ông tham gia vào Ban Chấp hành Hội Khuyến học tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng và Thành phố Đà Nẵng
Trung tướng Nguyễn Huy Chương mất ngày 4/1/2004 tại Đà Nẵng
Với những cống hiến to lớn, Trung tướng Nguyễn Huy Chương đã nhận được nhiều phần thưởng:
- Huy hiệu 40 năm, 50 năm tuổi Đảng.
- Huân chương Độc lập hạng nhất.
- Huân chương Quân công hạng nhất, nhì, ba.
- Huân chương Chiến thăng hạng nhì.
- Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì.
- Huân chương chống Mỹ hạng nhất.
- Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhì.
- Huân chương Giải phóng hạng nhất, nhì, ba.
- Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba.
- Huân chương Quân kỳ quyết thắng.
- Huân chương Kháng chiến Lào.
- Huy chương Vì sự nghiệp Tư pháp.
- Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày
Năm 2001, sau khi đã nghỉ hưu, Trung tướng Nguyễn Huy Chương đã viết hồi ký "Chỉ một con đường" (Nxb Đà Nẵng, 2001). Trong tác phẩm này ông bày tỏ: "Tôi đã trở về trên mảnh đất quê nhà sau hơn nửa thế kỷ dong ruổi trên con đường chiến trận. Những vùng đất tôi đã qua, những con người tôi đã gặp. Những người cha, người mẹ, người chị, người anh và đồng chí, bạn bè, có người đã ra đi vĩnh viên, nhưng tất cả đều là hình ảnh và tấm gương tuyệt vời, trong sáng, sống trọn tình trọn nghĩa thủy chung son sắc, cùng chí hướng, cùng lí tưởng, hi sinh chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu"...
Xin trích một đoạn trong tập hồi ký đặc biệt này của Trung tướng Nguyễn Huy Chương nói về quê hương Quế Phú, Quế Sơn (BBT).
Chương I: Làng Hương Quế.
Làng Hương Quế quê tôi, xưa thuộc tổng Xuân Phú, nay thuộc xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Làng Hương Quế trải dài từ xóm Bến Quan lên Mộc Bài vao giáp làng Hương An dài hơn 5 cây số. Phía nam có sông Hương An, phía bắc có sông Bà Rén, phía tây có sông Mông Nghệ. Trải qua bao biển thiên và sự can thiệp của bàn tay con người, đến nay dù sông Mông Nghệ không còn dòng chảy nhưng vẫn còn lòng sông khúc lở, khúc bồi. Cũng ở phía đông của làng có cánh Đồng Nhứt, mặt ruộng bằng phẳng, đất ruộng màu mỡ, lúa cấy trên Đồng Nhứt vụ nào cũng được mùa, hạt chắc. Có lẽ vì vậy mà người xưa đã có tên gọi là Đồng Nhứt chăng?
Thiên lí lộ xưa, nay là quốc lộ số 1 chạy qua chia làng Hương Quế thành đôi. Đình làng Hương Quế ngó lên núi Quế phía tây nam. Núi Quế có 9 ngọn, người xưa gọi là Cửu Phong Sơn. Cửu Phong Sơn ngày ngày đứng soi mình xuống mặt ở ba Bàu nước nằm phía đông làng. Nước ở ba bàu đầy với theo mùa nhưng chưa bao giờ cạn. Đến đời tôi nước ở ba bàu vẫn xanh mát quanh năm. Tuổi thơ tôi đã có những tháng ngày theo cha và các anh chị, nhất là bạn bè bay nhảy, rong chơi trên những thửa ruộng vào mùa gặt tháng ba, tháng tám vui như ngày hội trên đồng. Các làng Đồng Tràm, Trà Đình và Hương Quế coi cánh Đồng Nhứt là vựa lúa của vùng đông huyện Quế Sơn. Ruộng lúa tốt tươi, hoa màu phong phú và cá cua cũng nhiều, nên các buổi chợ Mộc Bài, còn gọi là chợ Chiều lúc nào cũng có cá đồng, đánh bắt ngay ở các ao hồ và ruộng rạch quanh làng. Chợ Mộc Bài, bên cạnh nhà tôi. Không kể chợ Bà Rén phía bắc, chợ Hương An, phía nam, chợ Gò Dê phía tây làng Hương Quế, thì chợ Mộc Bài là trung tâm của các làng, nơi đây trong kháng chiến chống Pháp trở thành khu vực sinh sống, buôn bán sầm uất, náo nhiệt của đồng bào vùng bị chiếm Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang, Đà Nẵng, Đại Lộc tản cư vào, đến nay vẫn còn nhiều gia đình sinh cơ, lập nghiệp ở dây. Chợ Mộc Bài nằm ngay hai bên đường quốc lộ Một, bao bọc bởi những lũy tre và đường nhựa quốc lộ Một chưa dầy nửa cầy số ngang qua giữa chợ Mộc Bài xóm tôi ấy đã để lại trong tôi những ký ức khó phai mờ. Một lần vào khoảng năm 1940, Bảo Đại, vị vua Nam triều được thực dân Pháp che chở đã có chuyến kinh lí bằng voi ngang qua làng Hương Quế. Đài voi của "quốc trưởng bù nhìn" chưa đến, nhưng các chức sắc tay sai từ phủ, huyện, đến các làng, xã đã tụ tập đợi chờ và quỳ lạy bên đường, mặt cúi xuống đất, không dám và không được phép ngước mắt nhìn lên "long nhan thánh thượng". còn dân làng, hai bên đường thì phải đóng kín của, không được bén mảng, dòm ngó. Lệnh đã ban ai vi phạm coi như tai họa sẽ giáng xuống đầu. Tôi chứng kiến cảnh ấy mà trong lòng cảm thấy xót xa, phẫn uất vô cùng. Và cũng không lâu, cũng tại nơi này, tôi và bạn bè, đồng chí của tôi trong lực lượng dân quân xã, vai mang mã tấu thắt lưng dao găm lựu đạn; chân không giày dép, xếp hàng tập đi đều một hai... một hai... và nhiều loại hình quân sự khác trong hào khí của những ngày Cách mạng mùa Thu, sau ngày giành chính quyền về tay nhân dân...
Trải qua bao đời tên làng có lúc đổi thay vì nhiều lí do, nhưng chủ yếu để phù hợp cho việc quản lí địa giới cư dân, canh tân xây dựng của mỗi thời kì. Nhưng có một điều, cái làng quê muôn thuở ấy cứ sống mãi, gắn bó máu thịt trong tâm tưởng, kí ức theo suốt cuộc đời của mỗi người sinh ra, lớn lên và trưởng thành trên mảnh đất quê làng. Càng về sau này, tôi mới hiểu hết nguồn cội của làng mình, không chỉ đẹp về phong cảnh hữu tình, mà còn ẩn chứa bao điều kì diệu. bên cạnh đình làng Hương Quế có đền thờ Tam vị Tiền hiền gồm: họ Trần, họ Nguyễn, họ Phạm.
NGUYỄN XUÂN PHÚC
Ông Nguyễn Xuân Phúc sinh ngày: 20/7/1954, tại xã Quê Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Theo gia phả tộc Nguyễn làng Hương Quế, tộc họ này thuộc dòng dõi Nguyễn Trãi, là hậu duệ của Thượng tể Nguyễn Văn Lang, người được xem là thủy tổ tộc Nguyễn ở Quảng Nam.
Học vị: Cử nhân.
Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI Đại biểu Quốc hội khóa XI, XIII
1973 - 1978: Sinh viên Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội; Bí thư chi đoàn.
1978 - 1979: Cán bộ Ban Quản lý kinh tế Quảng Nam - Đà Nẵng.
1980 - 1993: Chuyên viên, Phó Văn phòng rồi Chánh Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; Bí thư Đảng ủy cơ quan, Đảng ủy viên Đảng ủy khối Dân Chính Đảng Quảng Nam - Đà Nẵng khóa 1, 2. Học quản lý hành chính nhà nước tại Học viện Hành chính Quốc gia.
1993 - 1996: Giám đốc Sở Du lịch, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Tỉnh ủy viên khóa 15, 16 tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Học quản lý kinh tế tại Đại học Quốc gia Singapore.
1997 - 2001: Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa 17, 18; Phó Chủ tịch rồi Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Nam kiêm Trưởng ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Quảng Nam; Chủ tịch Liên minh các Hợp tác xã tỉnh Quảng Nam; đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khóa 6.
2001 - 2004: Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam (nhiệm kỳ 1999 - 2004); Bí thư Ban can sự đáng UBND tỉnh. Đại biểu Quốc hội khóa XI, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội khóa XI.
2004 - 2006: Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam (nhiệm kỳ 2004 - 2009); đại biểu HĐND tỉnh khóa 7; Đại biểu Quốc hội khóa XI, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội khóa XI; Chủ tịch Liên hiệp các hội KHKT tỉnh Quảng Nam.
3/2006 - 5/2006: Phó Tổng Thanh tra Chính phủ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng.
6/2006 - 8/2007: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Chính phủ, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội khóa XI.
Từ 8/2007 đến nay: Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Cán sự đảng Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Tổ trưởng Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ; Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị; Đại biểu Quốc hội khóa XII.
Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa XIII, được Quốc hội phê chuẩn làm Phó Thủ tướng Chính phủ.
Tháng 4/2016, được bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ.
Tháng 4/2021, được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
LÊ TRÂM
Nhà văn Lê Trâm sinh ngày 10/7/1956 tại làng Trà Đình, xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng). Tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Huế. Hiện đang sống và làm việc tại Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).
Ông là Uỷ viên Ban Chấp hành, Chi hội trưởng văn học, Hội VHNT Quảng Nam.
In truyện ngắn đầu tay trên tuần báo Tuổi Ngọc năm 1974, viết lại từ năm 1988.
Tác phẩm đã xuất bản:
- Nghe vọng tiếng đồng (tiểu luận & tạp văn - NXB Đà Nẵng 2010)
- Một giấc hồ điệp (truyện ngắn - NXB Hội Nhà văn 2007)
- Mơ về phía chân trời (truyện vừa - NXB Đà Nẵng 2004)
- Tìm lại thời gian (truyện ngắn - NXB Đà Nẵng 1999)
- Tý cô nương (truyện vừa - NXB Đà Nẵng 1994)
- Bức tranh gửi lại (truyện vừa - NXB Kim Đồng 1996)
- Lai lịch một thành hoàng (truyện ngắn - Hội VHNT Quảng Nam - Đà Nẵng 1992)
Giải thưởng:
- Giải thưởng Văn học nghệ thuật Quảng Nam – Đà Nẵng mười năm 1985 - 1995.
- Giải thưởng Văn học nghệ thuật Đất Quảng lần thứ I, 1998 - 2008.
- Tặng thưởng Văn học nghệ thuật Đất Quảng năm 2010.
- Một số giải thưởng của báo Tiền Phong và của địa phương.
LAI LỊCH MỘT THÀNH HOÀNG
Truyện ngắn của Lê Trâm
Tôi lên chín tuổi, chị hai mươi. Năm ấy, nắng dập duềnh cuối bãi. Mưa sùi sụt bên sông. Trắng trời cơn nước lũ. Tôi và chị, có thành hoàng làm chứng, tưởng không thể rời nhau. Làng xóm nghèo, thành hoàng không có nổi ngôi đền riêng, chơ vơ ngôi mộ đất. Được cái to lớn, oai nghiêm. Kẻ ăn mày phiêu bạt chưa hề định ra phương gởi nhờ tấm thân còm cõi thoắt nhiên đời này đời khác có người hương khói quanh năm. Nên chi ngài quá đổi thiêng. Chỉ mỗi tội hình như lẽ công bằng ngài còn hơi thiếu. Lộc trời phú hết cho một họ Hoàng Hoa. Của cải, ruộng vườn... Cả làng làm công cho một họ. Bù lại trai Hoàng Hoa thường nát rượu, mệnh yếu.
Có anh trưởng nam đời mười bốn lăm le muốn vớ tú tài bèn khăn gói ra Kinh để rồi chỉ học nổi mấy khúc Nam ai, vài khúc Nam bằng. Hết năm thứ ba, người cha đành phải lôi về. Lặn lội khắp kinh kỳ chẳng thấy cậu quý tử đâu, may nhờ có thành hoàng mách mới tìm tới được chiếc thuyền con neo gần Đập Đá. Lộc nhiều thế nhưng với nhà Hoàng Hoa khá bấp bênh bởi có lắm đời độc đinh liên tiếp. Tam đợi độc đinh, tứ đợi tuyệt tự. Kể từ đời thứ mười lăm đã ba đời con trai một. Đời thứ mười tám chỉ độc mình chị: Hoàng Thị Huệ Diêu! Chị như ngọn đèn cạn dầu chợt bừng lên rạng rỡ. Ba tôi bảo: Nó là tinh hoa của cả dòng họ tụ lại nhưng đời nó rồi nghiệt ngã lắm thôi. Tôi nghe, ngơ ngác một tí rồi vù chạy sang nhà ôm chân chị, thủ thỉ. Chị cười buồn, kéo tôi ra bến vắng. Loáng cái đã cởi bỏ xong áo quần, chị nhìn tôi, cầu khẩn: Em xem này, chị có đẹp không? Tôi đăm đắm nhìn làn da trắng mịn. Trắng là đẹp, tuổi lên chín bảo vậy và tôi se sẽ gật đầu. Chị ôm chấm tôi, rơi nước mắt: - Lớn lên em dám lấy chị không?
Tôi dụi đầu vào khuôn ngực ấm: Em sẽ lấy chị đấy! Chị bỗng phì cưới, cốc đầu tôi: - Thiệt không? Tôi tròn mắt: Thiệt mà! Chị không tin à? Giọng chị trầm xuống. Có lẽ chị buồn. Phải chi em... - Chi vậy, chị? - Ơ, ờ, không... Chị nhìn sang bờ bờ bên kia nơi đám lau lách lô nhô dưới vùng trăng nhạt thếch, giọng xa xăm: - Mà lớn lên, chắc gì em... Tôi lắc đầu, chực khóc: - Không, em sẽ lấy chị, thiệt mà! Chị Diêu ôm riết lấy tôi, sụt sịt. Nước mắt rỏ xuống lưng tôi bỏng rát. Tôi cũng quàng qua hông chị, ôm cứng. Ngực chị thơm và ấm.
Tôi không muốn lớn nữa.
Hai ba, hai bốn, hai lăm, chị vẫn cứ chưa người ngấp nghé. Đến đứa con rốt dòng họ, gia sản đã tan tành. Người cha mải mê cờ bạc lần lượt lùa hết mấy mẫu ruộng sót lại vào chiếu bạc. Đến mấy dãy nhà thờ ông cũng chẳng tha. Lúc biết mình sẽ thua canh bạc chót, ông bỗng lên cơn nhồi máu. Chôn cất người đàn ông bất hiếu nhất dòng họ xong, hai mẹ con dắt díu nhau ra đầu làng che chòi ở. Người mẹ chịu đựng chưa hết một năm, nối bước ra đi. Khi miền nam giải phóng chị chẳng còn gì ngoài cái tiếng con nhà địa chủ hữu danh vô thực. Chị trở thành đối tượng cần xa lánh. Nên đến bây giờ chị vẫn chưa ai. Chẳng hiểu có phải vậy không?
Gái Hoàng Hoa không chết trẻ sẽ chửa hoang. Số còn lại ứng trọn vào câu Lấy gái họ Hoàng nát tan nhà của. Trời định: Hể ta cho cái này sẽ lấy bớt cái kia đi. Lời nguyền ứng xuống họ Hoàng cấm có sai sót một ly. Thành hoàng vốn đã thiêng càng thêm thiêng. Cả một làng Đồng Trại mấy mươi nhà thay nhau cúng tế ngài. Có một nơi gởi gắm niềm tin để sống qua ngày, lòng cũng thanh thản. Người ta nhắc nhở con cháu rằng trông họ Hoàng kia mà liệu sống! Thời vàng son còn khó vậy huống chi bây giờ tay chị trắng trơn. Người ta sợ phải dây vào với chị như là sợ hủi. Chị lại như hoa huệ hoa đào ngày một phổng phao. Càng xinh đẹp càng khiến người ta thêm hãi. Nên chi bây giờ chị vẫn chưa ai. Chẳng hiểu có phải vậy không?
Tôi mười một tuổi, chị hai hai. Một tối, chị gọi sang nhà. Tôi sà xuống nồi bắp luộc, giục chị cùng ăn. - Khoan mà, để tao thay áo đã! Bất giác, chị nhìn tôi: - Ơ, mày lớn rôi! Tôi lắc đầu phụng phịu. Chị dổ: Thôi đứng lên cưng, rồi quay mặt vào vách! Tôi líu ríu bước tới tấm phên nát lòng ấm ức như bị mắng oan. Từ đó, tôi sợ phải trở thành người lớn. Làm người lớn kinh thật!
Tôi trở nên buồn bã vô cớ. Buồn và đâm nhát gan. Tại chị. Tôi suốt ngày vơ vẩn như người muốn tìm cái gì đó xa xăm. Hay vì lời nói vô tình chị nhắc năm tôi lên chín tuổi? Tôi lặng lễ vùi đầu vào học. Có phải chị muốn vậy không, chị Diêu?
Năm sau, chị vào làm hợp tác. Chân kế toán làm một ăn mười. Một ngày, chủ nhiệm Trần Cư vỗ vai, xoa đầu chị, bảo thế. Nhưng đâu có dễ. Cả làng nhao nhao phản đối. Cái lão dê già ăn phải bùa mê con nhà địa chủ! Chị giả điếc, giả câm mải miết đi về. Chị bấm bụng yên phận với cái nghề cộng cộng trừ trừ quanh năm suốt tháng ngờ rằng chẳng đụng tới ai. Hóa ra đâu có phải. Chủ nhiệm Cư hay nhìn chị lạ lắm. Và năng đụng tay đụng chân, nói cười xả lả. Dẫu sao cũng là ân nhân. Chị cắn răng chịu đựng trăm bề. Những con tính bập bênh trôi xuôi, chảy ngược. Cuối cùng, chị hiểu ra ngọn ngành cơ ngơi bây giờ lão Cư ở - mấy căn nhà gạch họ nhà chị bán đi cuối đời mười bảy - vừa được tân trang và hiện đại hóa. Một lũ con nuôi báo cô suốt ngày quần là áo lượt. Những bữa ăn tốn hàng tạ lúa. Lão giàu sang và quyền thế thao túng không chỉ một làng Đồng Trại nhỏ nhoi. Nhiệm kỳ chủ nhiệm kéo dài quá hạn đã hơn năm. Phải quyết toán thôi, Diêu ạ! Tối chú sang nhà! Sau khi trang bị một bữa ăn thừa mứa, một bữa rượu ngả ngơi, lão mò tới nhà chị. Nữa đêm, nghe chị ú ớ, tôi giật mình thức giấc, chạy sang. Lão và chị, áo quần tả tơi, đang hào hển quần nhau trên chiếc giường tre ọp ẹp. Tôi sôi gan lượm hòn gạch, ném càn... Thế mà thiên hạ cũng biết, đồn rầm. Nên đến bây giờ chị vẫn chưa ai. Chẳng hiểu có phải vậy không?
Chị hai sáu tuổi, tôi mười lăm. Có gá ăn mày gù từ đâu phiêu dạt về bên kia bãi lau. Gã mang bộ mặt thiên thần như mượn của ai... Dựng xong căn lều trống hươ, trống hoác gã bắt đầu đi biệt tối mịt mới về, ong ỏng ca. Gã ca rằng:
Nước non ngàn dặm ra đi
Cái tình chi
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Lý...
Tiếng sanh tiền gõ nhịp đều đều, chậm rãi đệm theo nghe buồn não. Giữa một dải sông nước lặng lờ, một vùng quê nghèo khó, một ngôi mộ thành hoàng um tùm những cỏ từ lâu tôi đã thấy thiêu thiếu một cái gì nên cảnh trời nước cứ chông chênh. Té ra là tiếng hát. Tiếng hát buồn và thống thiết của gã. Những đêm trăng sáng tôi thường tựa cửa nhà chị, nhìn sang. Bóng gã như hòn đá lăn tròn chậm chạp, tới tới lui lui. Năm ấy, làng đói. Chị Diêu càng đói dữ. Thêm gần tấn lúa đền bù do là sai sổ sách chủ nhiệm Cư trút lên đầu để trả thù chị càng thêm quẫn. Đến kỳ giáp hạt thì chị đổ hẳn, nằm bẹp giường. Tôi lén mẹ xúc trộm gạo nhà mang sang nấu cháo mớm chị ăn. Chị gầy nhom, áo quần xốc xếch thật thảm. Tôi thường ngồi hàng giờ nhìn chị. Khuôn mặt đẹp như tranh vẽ bây giờ nhợt nhạt, buồn rũ. Chỉ đôi mắt là vẫn đen và sắc.
Tôi nhìn chị mà cháy ruột cháy gan - Ân thương chị không? Tôi ứa nước mắt. - Thương thì về đi kẻo mẹ la! - Không, em ở lại với chị. Chị Diêu lắc đầu. Chặp sau, chị lấp lửng: - Ước chi nhà có đàn ông đàn ang... Tôi cầm tay chị: - Em cũng đàn ông mà... Chị cười mếu máo: - Em còn con nít... hiểu chi đời! - Em hiểu mà! Chị lắc đầu, cười buồn. Tự nhiên tôi buột miệng: - Nghe nói chị ghét cả làng? Đôi mắt chị bừng lên: - Ai nói với em? - Ai cũng bảo thế! - Chị không ghét, chỉ buồn! - Chị buồn cả em à? - Em thì không, chị thương! Tôi ôm vai chị dỗ: - Thôi chị ngủ đi! Em chơi chút xíu rồi về. Chị dịu dàng khép đôi mắt đẹp. Khắp người chị cái gì cũng dịu dàng. Đến hơi thở cũng nhẹ. Như không có gì. Chị thiếp đi lúc lâu. Tôi loay hoay dọn dẹp và định về. Bỗng, chị vùng vẫy, miệng la ú ớ. Hai tay co giật, mắt trợn ngược. - Chị Diêu, chị Diêu! Hai tay chị cứ nhằm tôi cầu xé, hơi thở hổn hển. Tôi lóng nga lóng ngóng chẳng biết phải làm gì. Chưa bao giờ tôi thấy ai bị như thế. Sợ quá, tôi nhào đại xuống, đè ngửa chị ra. Người chị mềm dần rồi mê hẳn. Tôi lấy khăn ướt đắp trán chị, ngồi chơi một lúc rồi về. Tôi bỗng thèm được lớn kịp bằng chị quá!
Tháng chín năm ấy tôi theo ông chú vào Nam học tiếp cấp ba. Hè năm sau, tôi về chơi. Làng xóm vẫn như xưa. Lão Cư vẫn chủ nhiệm, thêm giàu. Người làng vẫn thế. Chị Diêu tôi càng thêm xinh đẹp. Gã ăn mày vẫn hát đêm đêm. Gã mới học thêm bài hát khác. Ngày xưa có gã Trương Chi. Người thì thiệt xấu, hát thì thiệt hay. Giọng gã chừng buồn hơn. Hay gã chính là Trương Chỉ? Tôi vất túi xách ào sang nhà chị ngay. Thấy tôi chị đưa tay vừa gạt mồ hôi vừa vén tóc, rạng rỡ: - Ơ kìa! Cậu Ân đã về. Mặt bừng đỏ, tôi đáp lí nhí: - Em về thăm chị đây! Tôi mười sáu tuổi và chị vẫn chưa ai. Nghĩa là tôi đã lớn. Chị vẫn cười: - Cậu Ân lớn và đẹp trai hẳn ra rồi đấy! Trai thành phố có khác! Tự dưng tôi đâm buồn rười rượi. Không, em vẫn là thẳng bế chín tuổi thêm dụi đầu vào ngực chị ngày nào thôi! - Bao giờ thì cậu Ân đi lấy vợ? Chị vẫn hỏi ác. Tôi òa khóc, bưng mặt chạy về nhà. Trời ơi, chị quên hết rồi ư?
Ngày xưa có gã Trương Chi. Không phải gã ăn mày đâu, Trương Chi chính là tôi.
Tết năm cuối cấp ba tôi lại về. Ngang nhà chị tôi cúi đầu rảo bước. Đã hơn một giờ sáng. Vốn sợ ma nên tôi vòng qua đám lau lách, tránh mộ thành hoàng. Bỗng dưng tóc tôi dựng ngược. Một vật tròn tròn, đen đen lăn tới lông lốc. Tiếng cười con gái trong vắt trong đêm. Bóng đen nhập vào bóng đứa con gái trắng trẻo. Rời rồi nhập. Liên tục... Tôi hét lên và bỏ chạy thục mạng.
Tôi vẫn sang nhà dù chị đã mang thai. Bây giờ, với dân làng chị như con chó ghẻ. Tôi biết chị cần tôi. Hắn là ai không ai biết. Tôi lại càng không cần biết. Sau Tết không hiểu vì đâu người ta đâm ra sợ chị. Chị đi ngang đàn bà chửa không dám ngó. Tôi tới thăm chị lần cuối trước khi đi. Chị và tôi chẳng ai nói năng gì, chỉ lặng lẽ nhìn nhau. Hốt nhiên, chị bỗng bật cười: - Lẽ ra Ân phải lạy chị kia! Tôi ngạc nhiên: - Sao lại lạy? - Ân chưa biết gì à? Chị là vợ thành hoàng đấy! Ông Cư bảo thế! Tôi hét lên: - Chị im đi, đừng nói bậy! Chị khóc, rồi cười: - Lão nói đúng đấy. Lang này ngoài thành hoàng ra ai dám lấy chị? Ai? Chị bật dậy, khóc khóc, cười cười. Tôi cũng sấn tới, đấm ngực, hét: - Tôi lấy! Tôi lấy! Chị hi..ể...u...c...h...ư…a…! Chị Diêu ôm ngực lảo đảo, mắt trợn dộc, trăng dã. - Trời ơi! Em điên rồi! - Chị điên! Chị đ..i...ê...ê...n..! Cả làng này điên hết! Ha h..á…!!
Tôi bước xiêu vẹo ra phía mộ thành hoàng. Tôi muốn tróc mộ ngài lên, dựng ngài dậy hỏi cho ra lẽ!
*
Thi hỏng đại học, tôi vào bộ đội sau đấy mấy tháng. Ba năm tôi xuôi ngược khắp nước rồi sang X. Ba năm tôi ngơ ngác đi tìm. Tôi đi tìm chính tôi. Tôi đi làm ra một tôi tương xứng nỗi đau đời chị. Mãi đến lúc này tôi mới hiểu hết chị và mong tìm được cách giúp chị. Nhưng đã quá muộn. Tôi về, nghe mẹ tôi kể lại: - Nó sinh con vào đầu đông năm trước. Trời cho cơn nước lũ đưa đứa bé về, thiêng lắm con ạ. Một đứa bé tuyệt trần ai dòm cũng mến. Nó sinh xong, trời làm dữ. Lũ ngang tận mái nhà. Mộ thành hoàng nước xoi mất một góc. Lúc đào lên chuyển ngài đi mới thấy trống hươ. Cả làng lạnh tanh như chìm trong đại dịch. Mẹ tôi chợt xuống giọng: - Làng mình không có thành hoàng, con ạ! Hèn chi!... Không có thành hoàng kẻ ác không ai trị. Lão Cư ác rứa chẳng ai làm chi nổi. May còn có con Diêu nó mới chịu đi tù. Không thành hoàng người lương thiện chăng ai đùm bọc. Như nó, con Diêu. Rồi đây... Mẹ tôi bỏ lửng câu nói, dáo dác nhìn quanh... Sau cơn lũ, nó ẳm con đi biệt. Cả gã ăn mày bên tê sông, hình như lũ cuốn đi đâu, chẳng ai rõ tung tích... Tai tôi ù lên, chẳng còn nghe thấy điều gì.
Tôi đi dọc bờ sông. Căn chòi lá chị ở không còn tí dấu vết. Nhìn sang bên tê sông cũng thế. Làng không thành hoàng, tôi rùng mình...
Gió. Gió thổi rát một triền sông.
ĐỌC "MỘT GIẤC HỒ ĐIỆP"(1)
Phùng Tấn Đông
Ngày xưa có chuyện Trang Chu năm mơ hóa bướm, tỉnh dậy tự hỏi rằng mình hóa bướm hay bướm hóa mình? Sau này người trong thiên hạ hay nói sống ở đời hư, thực khó phân. Những ai từng đọc "Nam hoa kinh" có thể "cảm" được đây là chủ ý của Trang Tử ở chương "Tề vật luận", luận về lẽ ngang bằng giữa các sự vật, khuyên mọi người đừng phân biệt cái tôi (le moi) và cái tự nhiên (la nature) vì nếu không có cái tôi thì không có cái tự nhiên và ngược lại. Sự sống là khởi đầu của sự chết và sự chết là nối dài sự sống, sống chết không khác gì nhau...
Lê Trâm chọn nhan đề Một giấc hồ điệp - tên một truyện ngắn trong tập để đặt tên cho tập truyện mới nhất của mình (Một giấc hồ điệp - Tập truyện - NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2007) hẳn là có chủ ý, rằng dường như trong cuộc đời biến ảo, mọi sự, mộng và thực, chân và giả cứ đan xen nhau, rằng "càng yêu thương lắm, càng đau đớn nhiều" nhưng dù sao con người vẫn cứ phải sống, phải hi vọng vào lòng tốt vì suy cho cùng đó là lý do để sống.
Tác giả đã dẫn dắt người đọc đến với thế giới của cái Đẹp mang nhiều nét bi tráng. Đó là những nhân vật nữ với hành trạng lạ lùng, vừa thông minh vừa đa cảm, vừa có thật mà cũng rất liêu trai như cô bé Tiếu và mẹ cô (Lên núi chăn dê) mang vẻ đẹp đầy tự trọng của tình yêu trong sáng, tận hiến, vô nhiễm và đầy "thiên tính nữ" (chữ dùng của nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến). Đó là Ngọc, người con gái có số phận chìm nổi, bèo bọt vì mối thù hận truyền kiếp của cái Ác, sự lợi dụng huyền tích đẹp đẽ của làng Tứ Đại về "bến con gái" để làm chuyện đồi bại (Bến đời lao xao). Họ là những Hoàng (Khoảng cách), Dung, Ngân (Dòng sông chảy quanh) trẻ trung, xông xáo trong mọi lĩnh vực của đời sống công nghiệp, của lối sống đô thị - những nhân vật vừa thực tế, vừa mơ mộng, đẹp như một môi âu lo về những tâm hồn đa cảm mà đơn độc... Những nhân vật nữ trong cả tập truyện đều có niềm tin hằng cửu vào tình yêu, vào lòng tốt dù đôi khi họ buộc phải chao chát, đanh đá, thẳng thừng và dù cay đẳng nhưng khôn nguôi hi vọng về một "tình yêu tìm thấy" ở ngày mai.
Phía khác, những người đàn ông trong tập truyện là những nhân vật của "ngồn ngang ký ức và thời gian" với bao hoài niệm đẹp đẽ về thời thơ ấu, thời sách vở giảng đường, những năm tháng đời sống chật vật khó khăn nhưng thấm đẫm tình người, những mối tình câm thơ dại - những "cơ chế tình cảm" để con người trở nên lương thiện, có "những giấc mơ ngày" đầy linh diệu, thấy cuộc đời ấm áp biết bao. Đó là Dưỡng đầy cá tính, trung thực, tài hoa, lịch lăm, sống và chết như một giấc mơ đời hư ảo khiến đám hậu sinh mãi ngơ ngân đi tìm một giống loài hiếm hoi bên bờ tuyệt chủng. Là ông Bừng mang hồn cốt quê kiểng thơm như giấc mộng đầu luôn cố trì níu những đứa con trong cơn lốc của thời đại mới, không lấp đầy "khoảng cách thế hệ". Là Hân - hiệp sĩ xông vào hang hùm cứu người đẹp nhưng rồi liệu có như chàng Don Quichotte thời Trung cổ đánh với cối xay gió ở trời Tây.
Là nhiều, rất nhiều những nhân vật xưng tôi, khi thì là thằng con trai quê mùa hỏng thi không về quê đi cày thì "lên núi chăn dê" lúc nào cũng đau đáu phân thân giữa thực tại và tương lai, nội giới và ngoại cảnh, trẻ con và người lớn... khi thì là thằng tôi thất bại vừa thương yêu, chia sẻ với cộng đồng, vừa sống với huyền tích đầy ám ảnh của làng xóm vừa nổi điên "bước qua lời nguyền" để vượt thoát khỏi nỗi ám muội truyền kiếp sau luỹ tre kia.... Là những nhân vật, không cứ nam hay nữ, hể cứ cuối đường là những thân phận dở dang nhưng đầy ám ảnh với mộng, thực mờ nhoà. Dường những nhân vật của cái Ác chỉ dừng ở những nhân vật nam, là lão Đô (Bến đời lao xao) ác hơn cả quỷ, vừa ác vừa tinh ranh đã hại mẹ con Ngọc, là Tuấn con lão, kẻ đồng thuận với cái ác, cái ngu muội, là lão tổng giám đốc Lễ tham lam, dâm dật đã chạy sang thế giới bên kia cũng không thoát khỏi ngục A Tỳ, là nỗi ám ảnh phi lý về những thế lực siêu nhiên do con người đặt định (Vĩ thanh một truyện ngắn).
Trong số tác giả văn xuôi Đất Quảng, Lê Trâm là người "thâm canh" ở thể tài truyện ngắn, vì vậy anh là người thao thức tìm cách đổi mới cách viết. Ở tập truyện "Một giấc hồ điệp" anh cố thoát khỏi tình trạng chung của cộng đồng đọc "ưa thích truyện kể" (récit) với những cốt truyện éo le, gay cấn bằng cách lúc thì kết cấu truyện kiểu "đồng hiện" của điện ảnh, tìm cách phá vỡ tính tuyến tính (trình tự thời gian) dựng dậy những không gian cho nhân vật tự biểu hiện (Chúc ban mai tốt lành) thế nhưng quán tính vẫn làm tác giả khó "nổ tung văn bản". Ở truyện "Chúc ban mai tốt lành" có ba độc thoại, ba chân dung nhưng dường vẫn một cái nhìn toàn tri khiến cho truyện lộ vệt kết nối có tính luận đề. Ở truyện "Dị bản chuyện người đi tìm sông Hằng" là biến tấu trên cùng chủ đề nhưng vệt nối giữa mộng và thực vẫn chưa đủ độ mờ nhoè. Truyện "Một giấc hồ điệp" là kết cấu truyện của truyện, đan xen thực tại và hồi ức nhưng vẫn thiếu tính đột biến của tình huống. Đọc Lê Trâm vẫn thấy thế mạnh của anh ở kết cấu "tự truyện" - kiểu tự sự bằng cái tôi trần trụi và mơ mộng, bày biện đến cùng những trạng huống nhân thế "không đâu vào đầu". Với kiểu kết cầu này anh đạt được độ tin cậy cao, có được "những kết cấu mời gọi" sự đồng sáng tạo của người đọc bởi tính bất định của văn bản, ở đó có những số phận chẳng biết trôi dạt về đâu, một cơn hoan lạc bị đột ngột đình chỉ, nhiều những nhân vật đi trong "ánh mắt trông theo" của người đọc. Được như thế phần nào cũng tỏ rõ dấu hiệu tác giả đang tìm cách hội nhập với dòng chung của truyện ngắn hôm nay.
1 Tập Truyện ngắn của Lê Trâm – NXB Hội Nhà văn – 2007
LÊ CHIÊM
Thượng tướng QĐNDVN
Lê Chiêm sinh ngày 01 - 01 - 1958, tại xã Quế Xuân, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng).. Là Trung tướng QĐND Việt Nam, Tư lệnh Quân khu V và sống tại phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (nay là phường Hoà Cường, thành phố Đà Nẵng)
Quá trình học tập, công tác và chiến đấu:
Nhập ngũ: 12/ 1976. Năm 1980 được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Ngày 5 tháng 12/1976, tự nguyện nhập ngũ, chiến sĩ Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 38 Sư đoàn BB2. Tháng 3 năm 1977, học viên Trường sĩ quan Quân khu V (Phù Cát - Bình Định). Tháng 12/1977, công tác Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 38, sư đoàn BB2. Tháng 7/1985, tham gia chiến đấu biên giới Tây Nam (Tây Ninh - Quân khu 7) và giúp bạn giải phóng Campuchia, truy quét tàn quân, trải qua các chức vụ: Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng (quân hàm từ Hạ sĩ đến Thượng úy)
Tháng 8/1985 học viên Học viện Lục quân Đà Lạt đào tạo cán bộ Trung đoàn, quân hàm Đại úy. Tháng 8/1989 Phó Tham mưu trưởng; Phó Trung đoàn Trưởng - Tham mưu trưởng; Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 - Sư đoàn BB2.
Tháng 2/1996 Phó Tham mưu trưởng Sư đoàn BB307.
Tháng 9/1996 Học viên đào tạo cán bộ Sư đoàn Học viện Quốc phòng - Hà Nội. Tháng 8/1998 Phó Sư đoàn trưởng quân sự, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng và Sư đoàn trưởng Sư đoàn BB2, Quân khu 5. Quân hàm Đại tá - Đảng ủy viên Quân khu 5.
Tháng 01/2004 Uỷ viên Ban Thường ủy Tỉnh ủy, Đại tá Chỉ huy trưởng Bộ CHQS Đăk Lăk. Từ tháng 7/ 2006 Học viên Học viện Quốc phòng. Tháng 8 - 2007, Đảng ủy viên, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Quân khu 5. Tháng 8 - 2009 Đảng ủy viên, Thiếu tướng Phó Tư lệnh Quân khu 5.
Tháng 2 - 2012 Bí thư Đảng ủy, Trung tướng - Tư lệnh Quân khu 5.
Tháng 4 năm 2015: Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 10 năm 2015: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông cũng là Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương.
Năm 2016, ông được phong quân hàm Thượng tướng, được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII
Ông nghỉ hưu vào năm 2021.
Với những cống hiến cho cách mạng và những thành tích đặc biệt xuất sắc trong quá trình công tác, ông được Đảng và Nhà nước cấp trên khen thưởng: Huân chương chiến công hạng nhất, 3 Huân chương chiến công hạng 2, 3 Huân chương chiến công hạng 3, Huần chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; 5 Bằng khen trong chiến đấu và nhiều phần thưởng cao quý khác.
LÊ NGỌC HẢI
Trung tướng QĐNDVN
Ông Lê Ngọc Hải, sinh năm 1970, quê quán xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng). Hiện nay là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Quân khu 5.
Quá trình học tập, công tác:
Ông nhập ngũ năm 1989, công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Từ năm 1991 đến 1995, ông được đào tạo tại Trường Sĩ quan Lục quân 2.
Trong giai đoạn 1995 – 2004, ông đảm nhiệm các chức vụ từ Trung đội trưởng, Đại đội trưởng đến Trợ lý tác huấn tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam.
Từ năm 2004 – 2009, ông lần lượt giữ các chức vụ Tiểu đoàn trưởng, sau đó là Phó Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng Ban Chỉ huy Quân sự một số huyện thuộc tỉnh Quảng Nam.
Giai đoạn 2011 – 2013, ông giữ các cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 143, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 315, Quân khu 5.
Từ năm 2014 đến 2018, ông là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam, được phong quân hàm Đại tá, đồng thời là Đại biểu Quốc hội khóa XIV.
Năm 2018 – 2019, ông được bổ nhiệm Phó Tham mưu trưởng, sau đó là Quyền Tham mưu trưởng Quân khu 5.
Tháng 10 năm 2021, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa XV, được Chủ tịch nước phong quân hàm Thiếu tướng.
Tháng 02 năm 2025, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân khu 5; đến tháng 8 năm 2025, được thăng quân hàm Trung tướng.
DI TÍCH VĂN HÓA ĐỒNG TRÀM, HƯƠNG QUẾ: VÙNG ĐẤT "TIỀN HIỀN" CỦA QUẾ SƠN
Các làng Đồng Tràm, Hương Quế, nay thuộc các xã Quế Phú, Hương An huyện Quế Sơn (nay là xã Xuân Phú, thành phố Đà Nẵng), trước đây gọi là vùng Ngũ Hương (Hương Lư, Hương Quế, Hương An, Hương Yên, Hương Lộc) là những ngôi làng "tiền hiền" không những của Quế Sơn mà của cả Xứ Quảng. Các làng Đồng Tràm, Hương Quế đã được hình thành cách đây trên 600 năm. Không có tài liệu nào cho biết một cách cụ thể được thành lập chính thức năm nào, chỉ biết qua gia phả họ Phạm, một tộc họ đã đến định cư sớm và nổi tiếng ở đây thì cao thủy tổ của họ là Phạm Nhữ Dực, người được Hồ Hán Thương cử làm Chánh Đô án Vũ Sứ vào năm 1402 để bình định vùng Thăng Hoa, vùng đất nằm ở nam Châu Hóa mà họ vừa mới chiếm, đã tạ thế và được chôn ở xứ Đồng Tràm vào năm 1409. Sau này con cháu ông nhiều người cũng được chôn ở vùng này như Phạm Đức Đề, Phạm Đức Đối, Phạm Nhữ Dự...
Nguyễn Văn Lang (1435 - 1513), người từng được vua Lê Tương Dực phong làm Tể tướng Thượng tể cũng di cư vào sinh sống ở đây và trở thành Thủy tổ của tộc Nguyên. Làng có một ngôi đình độc đáo, một nhà thờ tộc xây dựng từ đầu thế kỷ 16, một bộ gia phả được xem là đầy đủ nhất ở xứ Đàng Trong. Tất cả được xem là những công trình văn hóa tín ngưỡng lâu đời nhất của xứ Đàng Trong, gắn liên với sự nghiệp mở nước của 3 vương triều Hồ, Trần, Lê trong lịch sử.
Đình làng Hương Quế là nơi thờ "tam vị tiền hiền" của làng: tiền hiền họ Phạm, họ Trần và họ Nguyễn: tiền hiền họ Phạm là Phạm Nhữ Tăng (1421 - 1478), một danh tướng thời Lê, được Lê Thánh Tông cử làm tổng chỉ huy quân thủy bộ đi bình Chiêm năm 1471. Sau khi bình Chiêm xong được cử ở lại làm quan quản lãnh đầu tiên Thừa tuyên Quảng Nam. Khi chết (1478) được nhà vua cho về cải táng tại làng, đích thân nhà vua vào chỉ huy lễ cải táng và viết câu đối để ban tặng. Tượng Phạm Nhữ Tăng được thờ ở gian giữa của nhà thờ. Tiền hiền tộc Nguyễn là Nguyễn Ngọc Thanh con trai của Nguyễn Văn Lang và bà Phạm Thị Triều, em gái của Phạm Nhữ Tăng. Nguyễn Văn Lang, người đã từng giết Uy Mục và đưa Tương Dực lên ngôi. Sau này Tương Dực hoang dâm, độc đoán ông đã dâng sớ "bình trị" để cảnh tỉnh. Nhà vua không nghe, ông bỏ đất Bắc vào khai phá vùng Hương Ly và lấy con gái út của Phạm Nhữ Dự là bà Phạm Thị Triều (Trào). Vị tiền hiền thứ ba là Trân Văn Chơn, người được cử chỉ huy thủy quân dưới thời Trần Quý Khoáng (Trùng Quang Đê, 1409 - 1413).
Gần đình làng Hương Quế, giữa đồng lúa rộng của làng là nhà thờ tộc Phạm xây dựng từ thế kỷ XVI, nép mình dưới những tàng cây cổ thụ. Nhà thờ họ Phạm rộng ba gian. Gian giữa thờ tượng gỗ Phạm Nhữ Tăng, trong khuôn viên có ba miếu cổ dành thờ các vị thần Thánh mẫu Thiên y Ana, bò thần Nadin và một bia ký viết chữ Chăm có bề ngang 1,6 m, bề cao 1,8 m. Nhà nghiên cứu Trương Điện Thắng cho biết "Nơi đây là một trong những di tích hiếm hoi và quý gia, bởi những hiện vật mang tính lịch sử được các thế hệ dân làng và các đời vua chúa trân trọng, luôn tu bổ, thờ phụng...., ba miếu thờ trong khuôn viên này là bằng chứng cho thấy mối giao lưu văn hóa, tín ngưỡng và quá trình cộng cư của hai dân tộc Việt - Chăm trong lịch sử một cách sinh động, trong đó vai trò của các danh thần như các ngài tiền hiền họ Phạm là hết sức quan trọng. Với các đặc điểm kiến trúc và công trình tín ngưỡng đặc thù. Nhà thờ tộc Phạm và ba miếu thờ đã được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh vào năm 2007". (Hương quế, Vùng đất 600 năm. Báo Thanh Niên). Trong nhà thờ tộc Phạm còn lưu giữ một bộ gia phả được xem là đầy đủ nhất ở xứ Đàng Trong, ghi lại đầy đủ các vị từ cao thủy tổ là Phạm Nhữ Dực cho đến nay. Trong bộ gia phả có 6 tờ sắc phong từ các đời chúa Nguyễn, vua Lê; trong đó có đại ấn "Đế mạng chi bửu" của vua Lê Thánh Tông và "Chế mạng chi bửu" của vua Lê Thần Tông phong tặng
Cách đình làng và nhà thờ tộc Phạm một đoạn không xa là lăng mộ của Phạm Nhữ Tăng. Tương truyền ngôi lăng mộ do quan Thái lý của nhà Lê chọn, là một vị trí đắc địa gọi là "lục long tranh châu". Huyệt táng trên một gò đất nhỏ hình vuông mỗi cạnh dài 5 mét, cao 3 mét so với đồng ruộng chung quanh. Gò đồi phía xa như con chim phụng chìa mỏ ra ngậm lấy gò đất hình vuông của huyệt mộ nên còn gọi là huyệt "Đơn phượng hàm thư". Theo các nhà phong thủy, mộ huyệt lại tọa Khôn hướng Cấn (kiêm Dần 3 phân). Bàu Sanh nước trong xanh suốt năm cũng nằm ở hướng Cấn, tạo nên một bình phong tiền án có thủy tụ. Nước sông Rù Rì ôm huyệt mộ theo hướng từ trái sang phải (Sông Rù Rì ngày xưa chảy cách vị trí Hương An ngày nay khoảng 1 km về phía trên, vòng ra phía bắc khoảng 1 km, quẹo về phía đông ra vị trí Cống Ba ngày nay (Mộc Bài) rồi đổ vào sông Bà Rén ở xã Duy Thành. Dòng chảy của con sông ngày nay là do đổi dòng. Vị trí đổi dòng từ khe Vũng Chè ngày nay, là một vị trí đắc địa hiếm có dưới góc nhìn phong thủy phương Đông.
Đó là chuyện dân gian, còn hiện nay tại hai trụ biển trước lăng mộ của Phạm Nhữ Tăng còn hai câu đối của vua Lê ban tặng khi vào chủ trì lễ cải táng:
Nghĩa sĩ uẩn cơ mưu, hiệp lực nhất tâm bình
Chiêm quốc Miếu đài khai tráng lệ, hương hồn thiên cổ hiển Nam bang
Tạm dịch:
Nghĩa sĩ lăm mưu cơ, góp sức một lòng bình
Chiêm quốc Gương đài thêm rạng rỡ, hương hồn ngàn thuở rạng trời Nam.
Xa hơn, về phía đông nơi giáp giới giữa Quế Phú và Hương An là làng Đồng Tràm, nơi an nghỉ của Cao thủy tổ tộc Phạm, Phạm Nhữ Dực, Chánh Đô án vũ sứ lộ Thăng Hoa lừng lẩy một thời.
Về phía tây bắc của làng là nhà thờ tộc Nguyễn mà thủy tổ là ngài Nguyễn Văn Lang, người vẫn được xem là thủy tổ của "cãi" Quảng Nam. Nguyễn Văn Lang (1), người đã từng "cãi" lại vua, không chịu vào chầu và "dạy" cho vua về "nghệ thuật trị dân":
"Nguyễn Văn Lang làm quan đến Thừa tướng Thượng tể, chị làm cung phi đời vua Tương Dực (Hồng Thuận) nhà Lê. Ông biết Mạc Đăng Dung sắp cướp ngôi vua, nhân vua mời vào triều, ông không đi lại dâng điều trần bình trị gồm 14 điểm, trong đó có những điểm triều thần cho là muốn dạy vua nên khuyên vua đừng nghe: tự răn mình sửa lễ để tránh mọi tai hại cho dân, lánh xa thanh sắc để chỉnh lòng người và can gián nhiều điểm khác về quân đội, hiệu lệnh... Lẽ tất nhiên ông biết mình không nên sống ở Bắc phải xin vua cho di dân vào Nam khai thác biên thuỳ. Ông lập xã Hương Ly ở Quảng Nam rồi ở luôn tại đó. Với những vị (thuỷ tổ) có thành tích cãi vua cỡ đó thì có lẽ trong bản chất người Quảng đã có máu cãi" (Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy lân, Nxb Đà Năng, năm 1996, trang 71,72). Làng Hương Quế vì vậy cũng được nhiều người cho là làng tổ của "cãi" Quảng Nam.
Mộ Nguyễn Văn Lang và mộ Nguyễn Ngọc Thanh cũng được chồn ở vùng chân núi Hương Quế (phía tây nam của làng).
Tiềm năng du lịch của Quế Sơn đang được đánh thức. Các làng Đồng Tràm, Hương Quế chắc chăn sẽ là những địa danh văn hóa lịch sử quan trọng thu hút nhiều không những du khách mà còn cả các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử viếng thăm.
SÔNG LY LY ĐỔI DÒNG
Hương Quế (nay thuộc xã Quế Phú, huyện Quế Sơn) là một trong những ngôi làng "tiền hiển" của đất Quảng. Làng hình thành từ sự kiện lịch lịch sử quan trọng diễn ra vào vào thời nhà Hồ (1401 - 1407) với việc Phạm Nhữ Dực, con thứ 5 của danh tướng Phạm Ngũ Lão được Hồ Hán Thương cử làm Chánh Đô án vũ sứ châu Thăng Hoa vào năm 1402, đã chọn làng Đồng Tràm làm nơi an nghỉ của mình vào năm 1409 và xem đây là quê hương thứ hai của tộc Phạm tại xứ Đàng Trong. Sau này nhận thấy làng Đồng Tràm đất xấu trong khi khu vực ở phía tây có khe, suối, sông, có núi Quế, ruộng đất lại phì nhiêu nên người chắt nội của ông là Phạm Nhữ Tăng đã di cư đến vùng đất này khai phá để thành lập một làng mới lấy tên là Hương Quế.
Phạm Nhữ Tăng (1423 - 1478), người được vua Lê Thánh Tông cử làm Tổng chỉ huy quân thủy bộ trong cuộc bình Chiêm năm 1471 và sau chiến thắng được cử làm Đô ty Quảng Nam, cai quản vùng đất từ sông Bà Rén đến đèo Cù Mông.
Truyện kể, khi Phạm Nhữ Tăng mất vào ngày 21 - 2 - 1478 được an táng ở Xà Trường Thành (Bình Định). Sau đó, vua Lê cho quan Thái lý về Hương Quế tìm mộ tốt để cải táng. Sáu tháng sau, Thái lý tâu về là đã tìm được huyệt mộ "lục long tranh châu" bên dòng Ly Ly dưới chân núi Quê nên nhà vua ra lịnh cho cải táng. Lễ rước hài cốt của Phạm Nhữ Tăng diễn ra rất trọng thể. Đích thân nhà vua vào chủ trì lễ và ban tặng câu đối hiện còn tại lăng mộ họ Phạm: Nghĩa sĩ uẩn cơ mưu, hiệp lực nhất tâm bình Chiêm quốc/ Miếu đài khai tráng lệ, hương hồn thiên cổ hiển Nam bang.
Làng Hương Quế cũng được một số người cho là "làng tố” của "cãi Quảng Nam" vì đây là nơi định cư của Nguyễn Văn Lang, người đã từng "cãi" lại vua, không chịu vào chầu và "dạy" cho vua về "nghệ thuật trị dân":
Nguyễn Văn Xuân viết trong cuốn Phong trào Duy Tân (NXB Đà Nẵng, 1996, tr. 71, 72): "Nguyễn Văn Lang làm quan đến Thừa tướng Thượng tể, chị làm cung phi đời vua Tương Dực (Hồng Thuận) nhà Lê. Ông biết Mạc Đăng Dung sắp cướp ngôi vua, nhân vua mời vào triều, ông không đi, lại dâng điều trần bình trị gồm 14 điểm, trong đó có những điểm triều thần cho là muốn dạy vua nên khuyên vua đừng nghe. Lẽ tất nhiên ông biết mình không nên sống ở Bắc phải xin vua cho di dân vào Nam khai thác biên thùy. Ông lập xã Hương Ly ở Quảng Nam rồi ở luôn tại đó. Với những vị (thủy tổ) có thành tích cãi vua cỡ đó thì có lẽ trong bản chất người Quảng đã có máu cãi".
Con trai của Nguyễn Văn Lang là Nguyễn Ngọc Thanh hiện là một trong tam vị tiền hiền của làng (cùng Phạm Nhữ Tăng và Trần Văn Chơn). Không những mộ của Phạm Nhữ Tăng có thế long mạch mà nhiều người còn cho rằng cả làng Hương Quế đều có thế "đắc địa". Long mạch từ Hòn Tàu đổ xuống những ngọn đồi thấp dần ở vùng Quế Hiệp, gặp sông Ly Ly từ Vũng Chè chảy về phía tay phải ngoằn ngoèo dưới chân núi Quế, làm thành "hộ tống thủy", qua trước Bàu Sanh làm thành "tiền án tụ thủy". Xa về phía đông là cánh đồng lúa bằng phẳng rộng lớn, xanh rờn có thế như một biển lớn. Đúng là thế đất "rồng gặp biển", ra sức mà vẫy vùng.
Ly Ly là sông chính của huyện Quế Sơn, còn gọi là sông Rù Ri vì hai bên sông và bãi bồi giữa sông có mọc nhiều cây rù rì, một loại thực vật cao chỉ độ 2 - 3 mét, nhưng có bộ rễ rất dài cắm sâu xuống đất; lại là loại cây có sức sống mãnh liệt, ngâm mình dưới nước nhiều ngày vẫn không chết. Rù Rì phát nguyên từ núi Hòn Tàu chảy trên địa phận phía tây nam huyện, theo hướng tây nam - đông bắc. Sông đổ nước vào sông Bà Rén, nơi giáp giới giữa xã Duy Thành và Bình Giang.
Nhiều người cho rằng dòng chảy của sông hiện nay là kết quả của một lần đổi dòng của sông vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Trước đầy sông chảy đến vị trí Vũng Chè (cách ngã ba Hương An khoáng 1km về phía thượng lưu) thì rẽ về phía tay trái, ngoăn ngoèo dưới chân núi Quế, qua trước Bàu Sanh, ra phía cống Ba (Mộc Bài) bồi đắp một dãi đồng bằng rộng lớn màu mỡ rôi mới chảy về phía đông nhập vào sông Bà Rén. Lúc này tàu thuyền từ biển có thể vào sông Bà Rén rồi theo sông Ly Ly lên đậu ở Bàu Sanh dưới chân núi Quế.
Chuyện kể, một người con gái tộc Phạm của làng Hương Quế làm dâu về vùng đông của huyện Thăng Bình. Thấy quê chồng toàn đất khô cằn, dân cư nghèo khó, bà chạy về xin ý kiến của cha vốn là một vị quan giỏi và nhân hậu, để khơi một con kênh dẫn nước từ sông Ly Ly về tưới cho quê chồng. Người cha đồng tình ủng hộ. Con kênh được khơi ngay nơi khúc uốn sang phía tay trái của sông Ly Ly. Một năm lụt lớn, nước sông chảy đến khúc uốn, lại dồn hết nước theo con kênh rồi phá con kênh thành dòng chính đổ thẳng ra biển. Dòng sông cũ trở thành dòng phụ, nước chảy ngược hướng cũ đổ vào dòng chính. Từ đó dòng phụ của sông ngày càng bị thu hẹp, Bàu Sanh dần cạn nước.
Có người cho rằng việc khơi con kênh làm sông Ly Ly đổi dòng là một "sự cố đặc biệt" mang tính "định mệnh". Thủy pháp của vùng không còn phù hợp vì thế vùng đất này cũng như mồ mả một số dòng tộc không còn giữ được thế "đắc địa", "phong thủy" để "hưng phát" như ngày trước.
Chuyện dân gian là vậy nhưng xét cho cùng "dâu bể" vẫn là lẽ thường của tạo hóa và "thịnh suy" là quy luật muôn đời của các dòng tộc. Người dân Hương Quế vẫn luôn tự hào quê mình là vùng đất "tiền hiền" của xứ Quảng và dòng họ Phạm - một trong ba tộc họ tiền hiền của làng, theo "Một tài liệu về cuộc di dân Nam tiến của tiền nhân" của Lâm Hoài Nam (1959), là dòng tộc đã giữ gìn được trọn vẹn những giá trị vô giá của tổ tiên với bộ gia phả đầy đủ nhất của xứ Đàng Trong và 6 tờ sắc phong từ các thời Lê, Nguyễn trong đó có đại ấn Đế mạng chi bửu của vua Lê Thánh Tông (1460 - 1490) và Chế mạng chi bửu của vua Lê Thần Tông (1619 - 1642) và 1649 - 1662) ban tặng cách đây gần 6 thế kỷ.